Wednesday, May 11, 2016

Đại Tá Võ Xuân Anh, tùng sự tại BTLKQ Tân Sơn Nhất


Xin các bạn cho tôi tìm 1 người anh tinh thần:

Đại Tá Võ Xuân Anh, tùng sự tại BTLKQ Tân Sơn Nhất trước 30/4/1975.

Kể từ đó, hoàn toàn đã bị mất liên lạc.
Nếu có ai biết tin tức về anh, xin liên lạc về email:


Many Thanks,
Ngô Chí Thiềng

Tìm Cha Đại Tá Phan Thế Thường


 Kính Thưa các Bác các Chú,

Cháu  tên Phan Thị Phựơng Yến, là con gái đầu lòng của Đại Tá Phan Thế Thường. Cháu đả có đọc lời nhắn Tin của Bác Năm Phan Bình Kiên tìm em trai Phan Thế Thường, và đả có viết email cho Bác về những chi tiết xác thực mà cháu đả biết, tuy nhiên cháu  đả sống tại đây từ tháng 2 năm 1996, hơn 20 năm sống tha phưong và củng tìm cha hơn 20 năm, Từng ngày từng tháng từng năm bất cứ gặp ai củng hỏi về Ba:  Đi đến đâu cháu đều hỏi- nhưng tất cả đều là con số 0 to tướng, Tuy nhiên,  cháu sẻ không tuyệt vọng để tìm cha của mình, dù chỉ còn là 1 nấm mộ thì cháu vẩn sẻ tìm đến , và cháu cũng rất hy vọng và khẩn thiết xin các Bác, các Chú nếu biết đựoc điều gì về Ba của cháu thì xin cho cháu biết, cháu muôn vàn thành kính cảm tạ. Dưới đây là phần chính xác của ngừoi cha  đả sanh ra cháu - cháu có đính kèm file Đại Tá Phan Thế Thường.
Xin nhận nơi đây sự chân thành cảm tạ và biết ơn đến các Bác, các Chú.
Cũng xin tòa Soạn / trang web xin cho biết thể lệ và chi phí để cháu có thể thanh toán tiền.

Xin thành thật cám ơn.
Yen 
yenspear@yahoo.com

Phan Thế Thường -  sanh năm 1934 , Trung tá Trung đoàn Trưởng Trung Đoàn 3 bộ binh . số quân 54/105037 . Học tập cải tạo trại Gia Trung có ghi ở giấy ra trại , có lăn ngón tay trỏ phải , danh bản số 4817 làm tại quân pháp .
Năm 1954 học trường sĩ quan Thủ Đức- 9 tháng mang lon chuẩn úy
Tiếp lại học trường Vỏ Bị Đà Lạt -  Thiếu úy . Ra trường làm huấn luyện viên  tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung và Cây Điệp , mang cấp bậc Trung úy .
Sĩ quan điều hành TTHL Quang Trung bấy giờ là Đại tá Cương và toàn thể gia đình mình đã sống ở đó .
4 năm sau lên Đại úy và sau khi học lớp Sình Lầy ở Nha Trang thì chuyển qua Biệt Động Quân
Tiếp 3 năm, đã đi huấn luyện 6 tháng tại Mã Lai về nhận chức Tiểu đoàn trưởng Cửu Long - mang lon Thiếu tá .
Tiếp lên Trung tá trung đoàn trưởng Trung Đoàn 3 bộ binh .
Bị thương 2 lần Cần Thơ và Phong Dinh. Lần 1 đạn xuyên hàm qua ót . Lần 2 đạn vào ngực xuyên vai
Chúc vụ đã làm gồm:
Quận trưởng Cái Tắc - Bình Chánh. (Đây là thời gian đầu tiên VC đả treo đầu của Ba với con số 20 triệu đồng)
Quận trưởng Cát Lái .
Quận trưởng Thuận Nhơn -Phong Dinh
Tháng giêng năm 1975 lên cấp bậc Đại tá Tỉnh trưởng Châu Đốc , thời gian bàn giao là 6 tháng nên chưa kịp rửa lon Đại tá thì VC chiếm miền Nam và khi học cải tạo thì vẫn còn cấp bậc Trung tá .
Năm 1982 cải tạo về nhà ông nội tại Gia Định Bà Chiểu rồi ra đi và mất tích.

Tuesday, April 19, 2016

KQ Nguyễn Bá Chính mất tích tại Phi Trường Đà Nẵng ngày 30-3-1975

Xin Chào các Bác

Hom nay con xin mạn phép nhờ các bác giup do gd con tim nguoi than, la bố con, tên Nguyễn Bá Chính, sanh 1942, do’ng quan o phi trường TSN va Da Nang, di tu nghiep o New Mexico nam 1971, mat tich ngay 30-3-75.  Con xin gui vai tam hinh chup cua bo con voi ca’c bạn dong nghiep.  Con xin ca’c ba’c neu co’ nhan ra ai trong tam hinh nay, xin cho con biet la bo con da chet o dau, va co’ tin tuc gi nua khong.  Con xin cam on, thay mat cho gd, xin da ta. Ca’c ba’c

Don Nguyen
Senior Settlement Specialist
Garland Power & Light
Phone: 972-205-2145
Email: dnguyen@gpltexas.org


Wednesday, March 30, 2016

Nhắn Tin Thiếu Úy Nguyễn Văn Thành Đoàn Công Tác 71 Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật


Thiếu Úy Nguyễn Văn Thành sinh năm 1954 phục vụ tại Đoàn Công Tác 71 Sơn Trà Đà Nẵng / Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật BTTM/QLVNCH.

Tin tức liên quan đến Th/Úy Nguyễn Văn Thành xin liên lạc về e-mail: NhaKyThuat@yahoo.com 

quang saigon <quangsaigon345@gmail.com>Tôi tên là nguyen văn Quang muốn tìm anh là thiếu úy NGUYỄN văn THÀNH đơn vị Đoàn 71 NKT số quân 74/145009, mất tích vào cuối tháng 3/1975. Mong đựợc tin của anh Thành nếu các anh trong cùng đơn vị biết tin. 

 Mong đựợc hồi đáp và xin cám ơn 

Monday, December 21, 2015

Đại Úy Phạm Ngọc Trân

Con chào chú Hung Pham,
Về các câu hỏi của Chú con xin trả lời như sau ạ:
Ba con tốt nghiệp sỉ quan Thủ Đức khóa 12. 
Con scan bản KÊ TƯỚNG MẠO VÀ QUÂN VỤ, mặt sau là CÔNG VỤ LIÊN TIẾP, kèm theo đó con Scan bản Tường Trình Ủy Khúc về trường hợp bị thương của Đại Úy Phạm Ngọc Trân-tức ba con.
Chúc có thể lấy thông tin rõ hơn trong file đính kèm chú nhé.
Chú ơi, ba con có giao 1 bộ hồ sơ giấy tờ của ba con, chú có thể cho con xin địa chỉ của Chú con có thể gửi trực tiếp file cứng qua địa chỉ để chú rõ hơn ah.
Cám ơn chú.
Con chờ hồi âm từ chú.
Kính chúc chú sức khỏe.
Con, Phạm Ngân.

Friday, October 24, 2014

Thiếu Úy Phan Văn Chương Chiến Đoàn 1 /SLL mất tích 71 (72) Biên Giới Lào-Việt


Kính gửi qúy NT& qúy AEm
Có người em ruột của cố th/uy Phan văn Chương ở CD1SLL mất tích năm 71(72) . Nay kính nhờ qúy NT và qúy anh em biết , xin cho thông tin về chuyến nhảy cuối ở Lào Việt. Chân thành cảm tạ

xin liên lạc về e-mail:
NhaKyThuat@yahoo.com
 

Tuesday, March 4, 2014

Nhắn Tin TĐT/BĐQ PHAN-THẾ-THƯỜNG Tiểu Đòan 43 và 44

 TÔI LÀ TRUNG TÁ PHAN-BÌNH-KIÊN, KHÓA 10 TRẦN BÌNH TRỌNG, ĐÀ-LẠT.  TÔI LÀ ANH RUỘT CŨA ĐẠI TÁ PHAN-THẾ-THƯỜNG, TỐT NGHIỆP KHÓA ĐOÀN KẾT ĐA-LẠT THÁNG 6-1954. CHỨC VỤ CUỐI CÙNG LÀ TRUNG-ĐOÀN-TRƯỠNG TRUNG ĐOÀN 16 - SƯ-ĐOÀN 9 TẠI SA-ĐÉC (QUÂN ĐOÀN 4) VỚI NHIỆM VỤ LÀ GIỮ AN NINH - QUỐC LÔ 4 TỪ BẮC MỸ THUẬN ĐẾN QUẬN CAI LẬY, CHO ĐẾN NGÀY 30-4-1975 LÀ TAN RÃ. TÔI VÀ EM TÔI BỊ GIAM TẠI NHÀ TÙ VĨNH LONG RỒI QUA TRẠI GIAM BÌNH-THŨY (CẦN-THƠ) RỒI CÙNG BỊ CHUYỄN RA BẮC BẰNG TÀU THŨY. TÔI BỊ CHUYỄN LÊN LÀO-KAY, VÀ EM TÔI BỊ ĐI LAI-CHÂU.

TÔI RA TÙ CÃI TẠO NĂM 1982 VÀ VƯỢT BIỄN VÀ ĐỊNH CƯ NĂM 1983 TẠI OAKLAND, CALI. TÔI ĐƯỢC TIN TỨC KHÔNG CHÍNH XÁC LÀ EM TÔI PHAN THẾ THƯỜNG BỊ CHUYỄN TRẠI LÊN VÙNG PLEIKU-KONTUM, RỒI BỊ BỊNH NẶNG NÊN ĐƯỢC THÃ RA VÀ VỀ BÀ-CHIỄU (GIA-ĐỊNH) Ỡ TẠM TRÚ NHÀ BA RUỘT NĂM 1984. Ỡ ĐÂY LỐI 4 THÁNG THÌ CÔNG AN KHU VỰC KHÔNG CHO Ỡ NỮA, NÊN EM PHAN-THẾ-THƯỜNG TÌM ĐƯỜNG VƯỢT BIỄN CÙNG VÀI ANH EM Ỡ CÁC ĐƠN VỊ CŨ. TRONG CÁC NĂM 1967 ĐẾN 1871, PHAN-THẾ-THƯỜNG LÀ TIỄU ĐOÀN TRƯỠNG BIÊT-ĐỘNG-QUÂN 43 RỒI 44 TẠI KHU VỰC TRÁCH NHIỆM CŨA SƯ-ĐOÀN 9.

TỪ NĂM 1984 ĐẾN NAY 2-2014, TÔI KHÔNG ĐƯỢC TIN TỨC GÌ VỀ VƯỢT BIÊN CŨA EM TÔI ĐI CHUNG CÙNG VÀI BẠN ĐỒNG ĐỘI CŨ, CHO NÊN TÔI THĨNH CẦU CÁC BẠN CÙNG KHÓA ĐOÀN KẾT TẠI ĐÀ-LẠT CŨNG NHƯ CÁC BẠN NÀO QUEN BIẾT EM TÔI VÀ TÔI, XIN VUI LÒNG CHO BIẾT VỀ SỐ PHẬN EM TÔI LÀ ĐẠI-TÁ PHAN-THẾ-THƯỜNG, THÌ GIA-ĐÌNH CHÚNG TÔI VẠN LẦN CÁM ƠN MÃI MÃI.

MỌI TIN TỨC XIN GỠI VỀ EMAIL phanbinhkien@yahoo.com.

XIN THÀNH THẬT CÁM ƠN TẤT CÃ ANH EM CHIẾN HỮU.

Wednesday, January 22, 2014

Tìm thấy 21 hài cốt quân nhân VNCH tại Thuận An, Huế


4 bộ hài cốt có thẻ bài

Huy Phương/Người Việt
VIỆT NAM (NV) - Vào tháng 4 năm 2013, trong khi dọn cỏ mảnh vườn sau nhà, vốn là một “độn” cát để mở rộng nơi canh tác, anh Huỳnh Văn Ðình, nguyên là một hạ sĩ quan Biệt Ðộng Quân (HSQ/BÐQ) và anh Trương Văn Niệm, nguyên trung sĩ nhất (TSI) thuộc Tiểu Khu Quảng Tín, tại xã Phú Xuân, Phú Vang, Thừa Thiên, đào thấy bốn thi hài quân nhân Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), với các lại quần áo rằn ri đã mục nát, xương cốt và xương sọ đã bị rễ dương bao bọc.
alt
Bản đồ bãi biển Thuận An-Thừa Thiên.
Bốn tấm thẻ bài được tìm thấy, đọc rõ được tên họ, số quân và loại máu. Căn cứ vào hai số quân đầu của chủ lực quân VNCH, chúng tôi sẽ ghi thêm năm sinh để gia đình dễ nhận ra thân nhân của mình.

Thẻ bài số 1: Ðặng Mòi. SQ: 55/210-905. Loại Máu O. Sinh năm 1935.

Thẻ bài số 2: Trần Quang Minh. SQ: 77/111-653. Loại Máu O. Sinh năm 1957.

Thẻ bài số 3: Lê Văn Trung. SQ: 73/214-237. Loại Máu O. Sinh năm 1953.

Thẻ bài số 4: Trần Phiên. SQ: 73/117-885. Loại Máu B+. Sinh năm 1953.

Khi khai quật, hai anh còn tìm thấy đủ nón sắt, áo giáp, dày da đã mục nát theo thời gian, đã được chôn lại theo hài cốt. Về vũ khí, có lẽ đã bị tịch thu trước khi xác họ bị vùi lấp. Hai anh chỉ còn giữ lại thẻ bài, một số dây đeo, một cái muỗng nhỏ, một quả tim và một chiếc nhẫn bằng nhựa và một chiếc nhẫn bằng kim loại.
alt
Hình ảnh 4 thẻ bài. (Hình: Tài liệu của ông Trương Văn Niệm)
Người đưa tin cho chúng tôi, TSI Trương Văn Niệm, quê ở xã Lộc Sơn, xã Phú Xuân, nguyên là quân nhân thuộc Tiểu Ðoàn 102 Ðịa Phương Quân (ÐPQ), Tiểu Khu Quảng Tín, bị thương tại mặt trận, được phân loại 2, làm công chức tại Ty Thuế Vụ Nha Trang trong những ngày cuối cùng. Sau ngày 30 tháng 4 anh trở về làng và chứng kiến nhiều ngôi mộ của anh em quân nhân VNCH tử trận trên đường rút quân vào tháng 3 năm 1975, chôn rải rác rất nhiều trong vùng. Tuy vậy sau vụ cải táng quy mô ở thôn An Dương cho 132 hài cốt quân nhân (chỉ còn được 13 thẻ bài và 1 căn cước) tháng 7 năm 2010, thì chính quyền địa phương ngăn không cho dân địa phương cải táng thêm những nấm mồ xiêu lạc vì sợ ảnh hưởng bất lợi cho chế độ.

Cũng theo anh Trương Ðình Niệm thì hiện nay tại xã Phú Hải, thôn Cự Lại còn một mộ chôn 17 tử sĩ (nghi là anh em Thủy Quân Lục Chiến (TQLC)), không có di vật, riêng 4 hài cốt có thẻ bài đã được hai anh Niệm và Ðình đưa lên vùng đất cao, xây mộ và có gắn bia.

Tưởng cũng nên nói lại, nơi bờ biển này, một số quân nhân TQLC đã lên được tàu hải quân ra đi, có những người bị bắt vào trại tù Cộng Sản như trung úy Cao Xuân Huy, tác giả “Tháng Ba Gẫy Súng,” Thiếu Tá Phạm Cang, tiểu đoàn trưởng (TÐT) Tiểu Ðoàn (TÐ) 7, Thiếu Tá Lê Quang Liễn, TÐP-TÐ7, Thiếu Tá Phạm Văn Tiền, TÐT-TÐ5... Số người chết, trong đó có Thiếu Tá Nguyễn Chí Nam, TÐT-TÐ4, riêng Ðại Úy Tô Văn Chiêu thuộc TÐ4 và hằng trăm người bị chết tại chỗ không tìm được hài cốt.
alt
Một ít di vật. (Hình: Tài liệu của ông Trương Văn Niệm)
Qua điện thoại của chúng tôi gọi về Việt Nam nói chuyện với anh Trương Ðình Niệm, anh ao ước chúng tôi sớm đưa tin tức này lên các cơ quan truyền thông hải ngoại, cũng như làm sao đưa tin này trở lại Việt Nam, để thông báo cho bốn gia đình anh em còn thẻ bài nêu trên biết tin, để sớm đưa hài cốt các anh về với gia đình, nhang khói cho ấm cúng sau hơn 38 năm lưu lạc.

Cũng như vào năm 2011, trên nhật báo Người Việt và chương trình Huynh Ðệ Chi Binh/SBTN, chúng tôi đã có cơ duyên may mắn, đưa tin về ngôi mộ tập thể 152 quân nhân tử trận trong ngày lui binh trên bãi biển Thuận An, chúng tôi hy vọng, hôm nay, bài báo này với 4 danh tính tử sĩ nêu trên sẽ đến được với người thân trong những ngày cuối năm này. Gia đình sẽ nhận thẻ bài như là một di vật quý giá còn lại và cải táng hài cốt tử sĩ đưa về quê nhà an táng.

Xin liên lạc với chúng tôi, nếu quý vị cần biết thêm chi tiết, để giữ an toàn cho những người có lòng đang còn ở lại quê nhà.

Trong nỗi đau xót của cả một dân tộc, chúng tôi xin nghiêng mình trước những anh linh tử sĩ và xin gửi lời chia buồn đến với gia đình những người đã khuất.

Gia đình có liên hệ tới 4 thẻ bài này, xin vui lòng gửi thư qua địa chỉ e-mail:huyphuong37@gmail.com 

hay vui lòng gọi cho chúng tôi ở số (949) 241-0488.

Friday, January 17, 2014

Cựu HQ T/ Tá LÊ QUANG MINH-Mất tích từ Trại cải tạo SUỐI MÁU BIÊN HOÀ

Tìm người tên là: Cựu HQ T/ Tá LÊ QUANG MINH-Mất tích từ Trại cải tạo SUỐI MÁU BIÊN HOÀ
Con tên Giáng Tiên, tìm cha cựu HQ T/ tá LÊ QUANG MINH, mất liên lạc từ trại cải tạo SUỐI MÁU BIÊN HOÀ. Trong trại, Ba con thiền yoga, không ăn gì trong nhiều ngày và nhường phần ăn của mình cho các Bác cùng trại. Mong CÁC BÁC CẢI TẠO CHUNG TẠI SUỐI MÁU nhớ xem là CHA CON ĐÃ BỊ CHUYỂN ĐẾN TRẠI NÀO VÀ SỐNG CHẾT RA SAO … để con có thể tìm ...
Để Liên Lạc Người Đăng Tin >> Xin Nhấn Chuột Vào Đây

Chi Tiết:

Con tên Giáng Tiên, tìm cha cựu HQ T/ tá LÊ QUANG MINH, mất liên lạc từ trại cải tạo SUỐI MÁU BIÊN HOÀ. Trong trại, Ba con thiền yoga, không ăn gì trong nhiều ngày và nhường phần ăn của mình cho các Bác cùng trại. Mong CÁC BÁC CẢI TẠO CHUNG TẠI SUỐI MÁU nhớ xem là CHA CON ĐÃ BỊ CHUYỂN ĐẾN TRẠI NÀO VÀ SỐNG CHẾT RA SAO … để con có thể tìm tiếp.
Một số thông tin về Ba con như sau:

- Tên: LÊ QUANG MINH, sinh năm 12/3/1942,
- Người miền Nam, cao khoảng 1.73m, có 5 đứa con – 4 gái, 1 trai. Vợ là Giáo viên tiểu học.
- Cấp bậc Hải Quân Thiếu tá,nơi phục vụ cuối cùng là Khu Trục hạm HQ4 Trần Khánh Dư, dưới quyền Hạm Trưởng HQ Trung Tá Vũ Hữu San.
- Đăng ký học tập cải tạo tại Saigon, đã ở tại trại cải tạo Thành Ông Năm Hóc Môn. Sau đó bị chuyển qua trại Suối Máu Biên Hoà và mất liên lạc từ trại nạy
- Con có nghe kể lại là trong trại cải tạo Suối Máu Biên Hoà , Ba con có thực hành thiền yoga, có thể không ăn gì trong nhiều ngày và lấy phần ăn của mình nhường cho các Bác các Chú ở cùng trại.
- Khoảng cuối năm 1977, theo tin của một bác Sĩ Quan ở gần nhà được tạm tha vì vợ chết, là “Ba của con đã trốn trại cùng với 4 người nữa. Những người Quản giáo trại giam tuyên bố đã bắn chết hết rồi, nhưng họ không đem xác về trại”. Đến nay, con không nhớ được tên của Bác ấy và tên trại cải tạo mà Bác ấy nói, vì lúc đó con còn nhỏ quá, mới 12 tuổi. Chiều tối hôm ấy, khi Mẹ con đi bán về nhà có đi tìm Bác ấy để hỏi thăm, nhưng Bác ấy đã quay vào trại rồi.

Con rất biết ơn và trân trọng mọi thông tin của các Bác về Ba con.

Thursday, December 19, 2013

Phi Cơ Phi Đòan 118 KQVN Mất tích / Núi Mẹ Bồng Con / Hòn Vọng Phu




THÔNG TIN DƯỚI ĐẬY TỪ CÔ MỸ HẠNH CHUYỂN TIẾP BAN LIÊN LẠC TÌM MỘ RỒI PHỔ BIẾN RỘNG RÃI TỪ CÁC ANH KHOA NGUYỄN - JIMMY VU.
TÔI PHẠM MINH MẪN PHI ĐOÀN 219 TRƯỚC TIÊN XIN CHÂN THÀNH CÁM ƠN ĐẾN QUÝ VỊ ĐÃ CHUYỂN THÔNG TIN NÀY LÊN GROUP KHÔNG QUÂN VÀ XIN THÔNG BÁO ĐẾN ANH VÕ Ý CÙNG CÁC ANH EM PHI ĐOÀN 118, ĐƯỢC RÕ:
 TỐI HÔM QUA MINH MẪN CÙNG CHÁU VĂN NGỌC CHÂU CON TRAI TRƯỞNG ANH VĂN NGỌC CỦA ĐÃ ĐẾN GẶP ANH HỒNG TẠI QUẬN TÂN BÌNH SAIGON ĐƯỢC BIẾT:
ANH HỒNG LÀ MỘT QUÂN Y CỦA BỘ ĐỘI ANH HỒNG CÓ LÀM VIỆC CHUNG VỚI HAI ANH QUÂN VÀ NAM LÀ NHỮNG CỰU QUÂN NHÂN QLVNCH, CÁC ANH CƯ NGỤ GẦN NÚI MẸ BỒNG CON, SINH KẾ BẰNG NGHỀ VÔ RỪNG TÌM ĐÁ THẠCH ANH VÀ  ĐÃ TÌM ĐƯỢC XÁC MÁY BAY CỦA PHI ĐOÀN 118 CÓ SỐ ĐUÔI MÁY BAY 6722527 (CÁC ANH NÀY CÒN GIỮ PHẦN MÁY BAY CÓ GHI RÕ SỐ ĐUÔI NÀY) VÀ CÁC ANH TÌM ĐƯỢC HÀI CỐT CỦA 4 NGƯỜI (ĐÚNG RA LÀ 5 NGƯỜI  MỘT NGƯỜI KHÔNG TÌM THẤY) GỒM TR/U VĂN NGỌC CỦA QUAN SÁT VIÊN CÓ THẺ BÀI - TH/U VO VĂN ĐẠT PILOT CÒN CĂN CƯỚC, MỘT PHỤ NỮ VÀ MỘT NGƯỜI ĐÀN ÔNG CÓ GIẤY TỜ NHƯNG KHÔNG CÒN ĐỌC ĐƯỢC NÊN KHÔNG RÕ DANH TÁNH, HỌ ĐÃ TÌM ĐƯỢC MỘT SỐ HIỆN VẬT NHƯ NÓN BAY MŨ NỈ KQ CÓ GẮN LON TRUNG ÚY ĐỒNG HỒ ĐEO TAY BỊ CHÁY HỎNG, GIÂY CHUYỀN VÀNG BỊ ĐỨT TỪNG ĐOẠN VÀ NHẪN HỘT SOÀN TẤM. CẢ 4 HÀI CỐT ĐƯỢC CHÔN CHUNG GẦN ĐÓ VÀ XẾP NHIỀU LỚP ĐÁ LÊN TRÊN.
ANH NAM LÀ NGƯỜI GOM TẤT CẢ HÀI CỐT CHÔN CHUNG HIỆN NAY ANH NAM ĐANG CÒN TRÊN NÚI KHÔNG LIÊN LẠC ĐƯỢC VÌ ĐT MẤT SÓNG...
CÁC ANH NÀY LÀ CỰU QUÂN NHÂN CÓ TẤM LÒNG VÌ ĐỒNG ĐỘI, CÁC ANH CÓ CUỘC SỐNG LAM LŨ, PHẢI VẤT VẢ NHIỀU NGÀY HAY CẢ THÁNG TRONG RỪNG ĐỂ TÌM ĐÁ THẠCH ANH...
CÁC ANH SẼ CHUYỂN NHỮNG DI VẬT CỦA HÀI CỐT  CHO CHÚNG TÔI XEM MỘT NGÀY GẦN ĐÂY, NHƯNG HIỆN NAY KHÔNG THỂ ĐẾN ĐƯỢC NƠI CHÔN HÀI CỐT VÌ TỪ NÚI MẸ BỒNG CON ĐI VÔ RỪNG BA NGÀY ĐƯỜNG, VÀ LÚC NÀY LÀ MÙA MƯA LẠNH BUỐT TRÊN ĐỘ CAO HƠN 2 NGÀN MÉT SO VỚI MÂT BIỂN, PHẢI ĐẾN MÙA HÈ MỚI ĐI ĐƯỢC.
  MINH MẪN VÀ CON TRAI ANH VĂN NGỌC CỦA TRƯỚC ĐÂY 10 NĂM ĐÃ TIN VÀO MỘT LÃO NGOẠI CẢM LỪA BỊP ĐI VÔ RỪNG TRONG VÙNG SÔNG BA SUỐT MẤY NGÀY TRỜI KHÔNG TÌM ĐƯỢC GÌ MÀ CHÁU CHÂU LẠI TỐN QUÁ NHIỀU TIỀN CHO GÃ NGOẠI CẢM LỪA BỊP ĐÓ.
NAY MINH MẪN KÍNH NHỜ ANH VÕ Ý VÀ CÁC ANH CÓ THÔNG TIN VỀ THÂN NHÂN BÀ ĐẠI TÁ LÊ QUANG BÌNH CÙNG TH/U VO VĂN ĐẠT...THÔNG BÁO ĐẾN THÂN NHÂN CỦA HỌ HỢP SỨC ĐI NHẬN HÀI CỐT VÀ CÙNG CHỊU CHI PHÍ CHUNG...VÀ CŨNG MONG CÁC ÂN NHÂN HẢO TÂM GIÚP CHO CHÁU CHÂU CÓ PHƯƠNG TIỆN ĐƯA HÀI CỐT CHA MÌNH VỀ VỚI GIA ĐÌNH VÌ HIỆN NAY CHÁU VĂN NGỌC CHÂU RẤT KHO KHĂN.
KÍNH THÔNG BÁO ĐẾN QUÝ VỊ
MINH MẪN 219



                                 Lien Lac Tim Mo lienlactimmo@att.net
Sent: Wednesday, December 18, 2013 8:34 PM
Subject: Thong Bao Hài cốt Tử Sĩ VNCH tìm thân nhân 
Kính Thưa Quý Cô Chú
 Văn Phòng Liên Lạc Tìm Mộ có nhận được thông tin như sau:
Máy bay số 6722527 Trung Tâm Huấn Luyện KQ Nha Trang .
1-) Người lái Trung úy Van Ngọc Của số quân 64/601584L nhóm máuB .
 2-) người ngồi bên võ văn Đạt 
 3-)và một người nam
 4-) có thêm một phụ nữ.  
Bị rớt ở núi .ai là thân nhân liên lạc với anh Nam 0979104425 
hoặc Hồng đt 0905190519 đ nhặn hài cốt 4 người trên
Chúng Cháu có liên lạc với Anh Hồng người phát hiện ra 4 hài cốt trên chuyến bay 6722527
 và được biết thêm rất nhiều chị tiết ......
Kinh mong Quý cơ Quan truyền thông .
Quý Cô Chú Anh Chị trên các diễn đàn 
 Quý Cô Chú trong Hội Không Quân VNCH.
Giúp chuyển tin nầy đến thân nhân những người quá cố 
            kính
Văn Phòng Liên Lạc Tìm Mộ
Ðiện thoại: 559-273-1782
E-mail: lienlactimmo@att.net


 Núi Mẹ Bồng Con (Hòn Vọng Phu)
Ảnh: Trần Quỳ 

Núi Mẹ Bồng Con là tên dân gian, còn tên chữ là hòn Vọng Phu có 2 đỉnh, độ cao 2.021 và 1762 mét so với mực nước biển, nằm trên ranh giới giữa các tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên và Đắc Lắc, phía trong hòn Nhọn của xã Hòa Mỹ Tây. Đây là nơi phát nguyên các con sông Ea Krông Rou chảy vào hướng nam, và sông Ea Mai, Ea Nga, Ea Grô chảy ra hướng Bắc. Mặc dù các ngọn núi này không nằm hẳn trong huyện Tây Hoà, nhưng huyền thoại về núi Mẹ Bồng Con được lưu truyền nơi đây khá phổ biến. Khu vực này có nhiều loại lâm sản quý như: gõ, kiền kiền, dầu, huỳnh đàn, chai dầu, hột ư đặc biệt là trầm kỳ từ cây dó bầu lưu niên.
Hàng năm sau mùa mưa bão, người dân ở hữu ngạn sông Ba thường tổ chức từng toán nhỏ luồn sâu vào rừng để tìm trầm kỳ từ tháng này sang tháng khác, cho đến khi nào tìm thấy, lấy được trầm. Trong dân gian có tên gọi riêng là đi điệu. Hành trình tìm trầm nhiều gian khổ, hiểm nguy, nhiều khi đi lạc, hết lương thực. Lúc đó, người đi điệu phải ngậm củ Ngải-một loại riềng dại, có vị thơm dịu làm cho ruột đỡ cồn cào. Từ đó mới có cụm từ ngậm ngải tìm trầm để chỉ những toán đi tìm trầm. Trong suốt quá trình đi điệu, dân tìm trầm sử dụng các từ khác thay thế cho các từ thông dụng, để chỉ tên gọi trong sinh hoạt, động tác, lễ nghi…
Đi điệu là một nghề vất vả, sống-chết, giàu-nghèo chỉ cách nhau trong gang tấc. Có lẽ xuất phát từ đó mà những người thân dưới đồng bằng mỗi khi nhìn lên đỉnh Vọng Phu thường liên tưởng đến chồng con, nên trong dân gian mới có truyền thuyết về người mẹ bồng con lên núi cao tìm chồng mãi cho tới khi chết hóa đá. Chuyện kể như sau: 
Có đôi trai gái nọ thương yêu nhau, cưới nhau nhưng nhà rất nghèo. Chồng đi làm thuê, vợ ở mướn cho nhà giàu, cả hai đầu tắt mặt tối nhưng không đủ ăn, thậm chí căn nhà để che mưa nắng cũng chỉ là căn lều tranh rách nát. Chẳng bao lâu sau, đôi vợ chồng sinh được mụn con trai. Tuy đời sống tinh thần rất hạnh phúc, nhưng vật chất thì thiếu thốn trăm bề. Cái đói, cái rách luôn luôn đứng trước mái tranh nghèo.
Một đêm kia người chồng thầm thì vào tai vợ rằng: Mình không thể sống mãi trong cảnh cùng túng này được. Tôi quyết chí theo anh em ngậm ngải tìm trầm, may ra đôi ta có khá hơn chăng? Sau một hồi phân vân, thoái thác người vợ cũng bằng lòng để chồng ra đi.
Một tháng, hai tháng rồi một năm sau… bóng người chồng vẫn biệt vô âm tín. Vì nhớ thương chồng. Người vợ bỏ nhà bồng con lên núi cao đứng trông ngóng về hướng chồng ra đi. Ngày một ngày hai nàng gọi mãi tên chồng nhưng chỉ có rừng núi vọng lại tiếng gào tuyệt vọng của nàng. Gào mãi cho đến khi nàng và đứa con kiệt sức chết đứng trên mỏm núi, sau hóa thành khối đá, người đời đặt tên là núi Mẹ Bồng Con để chỉ cho tấm lòng thủy chung của người vợ. 
Dị bản 1:
Theo thi sĩ  Quách Tấn thì núi Vọng Phu có tích từ người ngậm ngải tìm trầm:
“Có một người tu tiên gần đắc đạo thì một ngày kia quay về chốn cũ thăm bạn. Hai người lâu ngày gặp nhau mừng rỡ, chủ nhân bèn hối vợ con bày tiệc thết đãi. Trong bữa tiệc tao phùng, người bạn thật thà kể chuyện tu tiên, và ông đã luyện được ngải, ngậm vào có thể sống cả năm trời mà không cần ăn uống. Chủ nhân sanh lòng tham, phục rượu cho bạn uống đến say, bèn lấy cắp gói ngải và bỏ trốn đi tầm sư học đạo để sau này có thể hưởng cảnh thần tiên. Khi tỉnh giấc, vị đạo sĩ kia sờ vào tay nải không tìm thấy gói ngải, hỏi vợ chủ nhân mới hay người bạn đã bỏ nhà đi đã hai ngày nay. Vị đạo sĩ vội vàng đuổi theo, trèo đèo lội suối theo lối cũ mà đi. Chẳng may ông ngã xuống hố, chết hóa thành đá.
Còn chủ nhân cứ ngậm ngải mà đi, đi mãi nhưng không tìm thấy gì, lâu ngày thân thể mọc dày lông và hóa thành cọp. Đến khi nhớ cảnh cũ, vợ con, bèn quay về, nhưng mọi thứ đã thay đổi cả.
Trong khi đó người vợ mỏi mòn chờ chồng không thấy trở về, liền bồng con lên núi cao, và chết trên đỉnh núi, xác hai mẹ con hóa thành đá ngay trên đỉnh, nên sau này dân gian đặt tên là núi Vọng Phu hay Mẹ Bồng Con”.

Tuesday, December 17, 2013

Trung úy BĐQ Trần kỳ Nam SVSQ khóa 9/68 Thủ Đức


Trần ngọc Thanh, em gái của SVSQ khóa 9/68, grandmottet.tran@gmail.com

Trung úy BĐQ Trần kỳ Nam  

SVSQ khóa 9/68 Thủ Đức



Đại Đội Trưởng Đại Đội 4 Tiểu đoàn 67 Liên đoàn 25 BĐQ. Mất tích trước tháng 3, 4 năm 1975 trong trận rút Quân ở Pleiku hay Plei-me?( không rõ). các anh nào có biết bối cảnh, thời điểm và nơi cuối cùng của anh tôi trước khi hy sinh, xin liên lạc với địa chỉ trên. 

Chúng tôi thành khẩn xin quí vị phổ biến thông tin này cho các bạn hữu, chiến hữu, bạn tù ...,
hỵ vong trong số người quen của quí ông, quí bà, may ra có ai biết được bối cảnh chiến trường và nơi cuối cùng của anh tôi trước khi tử trận, hay tử tù, để chúng tôi trả lời một câu hỏi của mẹ một cách quả quyết lý do chính xác sự mất tích của anh Nam, vì chúng tôi rất đau lòng khi có một người mẹ, đang đau nặng gần ngày về cõi phật, suốt gần 40 năm trường với 14 ngàn ngày và đêm, vẫn một mực chờ tin con, như chờ một phép lạ.
Cám ơn quí ông, quí bà, chú, bác, anh, chị, đã hiểu nỗi thống khổ của những người mất người thân và thương tình giúp đỡ... 


Tin tức về cái chết của Trung Úy Biệt Động Quân Trần Kỳ Nam.
Hôm nay ngày Giáng Sinh 25 tháng 12 năm 2013
Tôi nhận được điện thoại của Anh Lắm, một quân nhân của Trinh Sát 2 Nhảy Dù cho biết như sau:
Trung Úy Nam cùng 7 quân nhân Biệt Động Quân triệt thoái trên Quốc Lộ 25 khoãng giữa Phú Bổn và Phú Túc khoãng ngày 20 tháng 3 năm 1975, anh Lắm là Toán Phó Viễn Thám cùng 4 nhân viên Toán / Đây là những Toán Viễn Thám Hậu cứ tại Khánh Dương và lấy tin tức cho các đơn vị Nhảy Dù Khánh Dương và Toán bị bỏ rơi, không máy bay đón Toán và các anh triệt xuất bằng đường bộ tìm cách về hướng Tuy Hòa. Trong lúc di chuyển và gặp toán 7 người của anh Nam và tất cả tháp tùng đi chung, ngay sau di chuyễn khoãng một thời gian ngắn toán chạm địch và tất cả đều bị bắt làm tù binh. Riêng Trung Úy Nam bị thương nặng nơi bọng đái và trút hơi thở cuối cùng tại khu vực Quốc Lộ 25 giữa Phú Bổn và Phú Túc do Cộng Quân chiếm đóng và chính anh Lắm là người vuốt mắt lần cuối và tìm cách thu thập một số tin tức về gia đình và người thân anh Nam tại Sàigon.
Sau 30 tháng 4 năm 1975 anh Lắm tìm cách về Sài Gòn và đến khu vực nhà anh Nam trong một khu cư xá ở Thị Nghè gần sở Thú để tìm Má và em trai anh Nam, nhưng một số Bộ đội Việt Cộng chiếm đóng và kiểm soát cư xá cho biết những người trong địa chỉ này đã không còn ở đây nữa.
Khi đến Hoa Kỳ anh Lắm có thấy mục nhắn tin trên Báo KBC và có liên lạc với người phụ nữ có lẽ là Vợ anh Nam nay đã có gia đình khác ở vùng Đông Bắc Hoa Kỳ và anh Lắm cũng đã cung cấp tất cả thông tin về anh Nam như chúng tôi đã trình bày phía trên.

Tin tức trên blog này xin quý vị phổ biến rộng rãi, hy vọng có các Quân Nhân QLVNCH hay các Bộ Đội Cộng Sản Bắc Việt tại khu vực Trung Úy Nam Tữ Trận có thêm tin tức về thi hài của Cố Trung Úy Trần Đình Nam Đại Đội Trưởng Đại Đội 4 Tiểu đoàn 67 Liên đoàn 25 BĐQ.

Xin liên lạc e-mail về: NhaKyThuat@Yahoo.com
Xin thành thật cám ơn.

Xin tiếp tục đọc bài viết có liên quan về cuộc triệt thoái Cao Nguyên vào tháng 3 năm 1975 và đưa đến toàn bộ sự sập đổ của Miên Nam.
Xin một lần được tri ân các Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa và đồng bào đã Hy Sinh xương máu bảo vệ Miền Nam Tự Do trong 21 năm.

Trân Trọng
PH/NKT



Triệt Thoái Cao Nguyên 1975, Cuộc Hành Quân Phá Sản

di_tan_mien_trung_1975sized

Một ngày trước khi tướng Phú tuyên bố Ban Mê Thuột thất thủ, hôm 12-3 -1975 Hạ Viện Mỹ biểu quyết cắt 300 triệu Mỹ kim quân viện bổ túc cho Việt Nam Cộng Hoà do Tổng Thống Ford đệ trình Quốc Hội, Đại sữ Mỹ Martin cũng thông báo cho Tổng thống Thiệu biết quân viện năm tới từ tháng 6 sẽ không được chuẩn chi, như thế Quân đội Việt Nam Cộng Hòa chỉ còn đủ đạn dược để đánh trận trong vòng 3, hoặc 4 tháng. Tại Pleiku liên đoàn 4 Biệt động quân chưa thể giải tỏa được quốc lộ 19, sư đoàn 22 tại gần Qui nhơn chiến đấu dữ dội với sư đoàn 3 Sao vàng của Việt Cộng, phi trường Cù Hanh bị pháo kích, 3 phi cơ A-37 bị phá hủy. Sư đoàn 10 sau khi chiếm Ban Mê Thuột tiến về tuyến Phước An, tại đây quân ta chỉ còn 700 người và 4 khẩu 105 ly. Hôm 11-3 Tổng thống Thiệu họp Hội đồng Tướng lãnh gồm các Tướng Trần thiện Khiêm, Cao Văn Viên, Đặng Văn Quang để trình bầy kế hoạch mà ông gọi là “Tái phối trí lực lượng”, với tình hình vũ khí đạn dược như hiện nay ta không thể giữ cả 4 quân khu, mà chỉ đủ lực lượng giữ Quân khu 3, Quân khu 4 và một phần duyên hải Vùng 2, Quân khu 1 chỉ giữ Huế và Đà Nẵng, sẽ rút bỏ Cao nguyên về giữ đồng bằng, bỏ những vùng xương xẩu để về giữ những vùng mầu mỡ. Hội đồng Tướng lãnh đồng ý, không ai phản đối. Đã choáng váng vì bị mất Ban Mê Thuột, nay lại tá hoả tam tinh vì Đồng minh phản bội trắng trợn, Tướng Thiệu mất tinh thần, đưa ra kế hoạch táo bạo liều lĩnh vô cùng tai hại trong một phiên họp tại Cam ranh ngày 14-3. Trong phiên này có Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên, Trung Tướng Đặng Văn Quang, phụ tá an ninh và Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân khu 2. Sau phiên họp Tướng Phú kể lại cho Phạm Huấn, người ký giả chiến trường này đã ghi lại trong Cuộc Trịêt Thoái Cao Nguyên 1975.

bmt 

 Ông Thiệu cho biết Quốc Hội Mỹ cắt giảm quân viện khiến ta thiếu thốn đạn dược tiếp liệu, Mỹ hủy bỏ cam kết yểm trợ bằng không lực khi Cộng Sản vi phạm Hiệp định Paris, lãnh thổ phòng thủ quá rộng lớn, ta thiếu thốn đạn dược, tiếp liệu, lực lượng địch năm nay quá mạnh… Ông cho biết Tướng Phú phải đem hết chủ lực quân, chiến xa, pháo binh của quân đoàn về phòng thủ duyên hải, nghĩa là rút bỏ Pleiku, Kontum.. Nghe thế tướng Phú bèn xin cho toàn bộ quân đoàn ở lại chiến đấu vì ông đã thoáng nhìn thấy sự sụp đổ miền Nam sẽ diễn ra do kế hoạch “tái phối trí” của Thiệu. “- Thưa Tổng thống, cho tôi được “tử thủ” Pleiku, giữ cao nguyên. Tướng Thiệu cười nhạt: – Tử thủ? Với quân số, đạn dược hiện có, liệu anh chiến đấu được bao nhiêu ngày với Cộng Sản? – Thưa Tổng thống từ 40 đến 60 ngày! – Rồi sao nữa? Tướng Phú khựng lại, đưa mắt nhìn tướng Viên cầu cứu, nhưng tướng Viên quay đi chỗ khác. Tướng Phú đáp: – Tôi sẽ chiến đấu đến cùng, cho đến khi không còn được tiếp tế súng đạn, lương thực nữa!

89-image_large 

 . . . … Tướng Phú vẫn liều lĩnh nói với giọng hơi lớn: – Thưa Tổng thống, thưa quí vị tướng lãnh, Nếu rút khỏi cao nguyên năm nay, thì một cuộc tấn công khác của Cộng Sản, có thể vào năm tới, sẽ mất duyên hải và mất nước. Tôi và các chiến sĩ của tôi có chết ở Cao nguyên bây giờ cũng không khác gì chết ở Sài Gòn trong năm tới!” (Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975, trang 85) Thiệu bác bỏ ý kiến Phú, ông nói đây là kế hoạch chung của Hội đồng tướng lãnh mà ông đã bàn thảo. -Tôi ra lệnh cho anh mang chủ lực quân, chiến xa, đại bác, máy bay …về phòng thủ Duyên hải, và tổ chức hành quân tái chiếm Ban Mê Thuột. . . . . – Lệnh này, từ cấp tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng trở xuống không được biết. – Thưa Tổng thống… – Có nghĩa là các lực lượng Địa phương quân vẫn ở lại chiến đấu. Các cơ sở hành chánh 3 tỉnh.Pleiku, Kontum , Phú Bổn vẫn tiếp tục làm việc cùng với tỉnh trưởng, quận trưởng như thường lệ. . . . – Quyết định mang tất cả chủ lực quân chiến xa, pháo binh, máy bay của Quân đoàn II khỏi Pleiku, Kontum, tôi đã thảo luận với các tướng lãnh. Đây cũng là một quyết định chung của Hội đồng Tướng lãnh, như quyết định hôm qua cho Tướng Trưởng ngoài quân đoàn I. Phòng họp im phăng phắc, không có một phản ứng, chống đối nào. Bỗng tướng Phú hỏi ôngThiệu một câu gần như lạc đề: – Thưa Tổng Thống, nếu chủ lực quân, Thiết giáp, Pháo binh rút đi làm sao Địa phương quân chống đỡ nổi khi Cộng Sản đánh? Hơn 100 ngàn dân 2 tỉnh Pleiku, Kontum và gia đình anh em binh sĩ? – Thì cho thằng Cộng Sản số dân đó! Với tình hình nặng nề hiện tại, mình phải lo phòng thủ, giữ được vùng dân cư đông đúc, mầu mỡ… hơn là bị “kẹt” quá nhiều quân trên Vùng Cao nguyên…” (CTTCN1975, trang 85, 86) Kế hoạch đã được coi như hợp thức hoá và lệnh triệt thoái được ban hành, các tướng lãnh không ai phản đối. Kế đó họ bàn việc lựa chọn đường rút quân, tướng Viên cho biết đường Quốc lộ 21 không thể xử dụng được vì đường 14 giữa Pleiku-Ban Mê Thuột đã bị địch cắt, Bắc Việt hiện có 3, 4 sư đoàn chính qui tại chiến trường Ban Mê Thuột, không thể từ đó xử dụng đường 21 về Nha Trang. Đường 19 nối Pleiku- Qui Nhơn cũng khó thành công vì đèo An Khê đã bị cắt ở hai phía Đông , Tây, Việt Cộng đóng chốt nhiều nơi, trước đây Pháp đã từng bị Việt Minh phục đánh kích tan tác trên đèo này. Ngoài đường số 7B không còn đường nào khác, Tướng Phú đề nghị chọn đường số 7B, kế hoạch được chấp thuận. Thiệu nói kế hoạch rút quân để bảo toàn lực lượng hầu tái chiếm Ban Mê Thuột, Thiệu dặn Phú phải giữ bí mật, không được cho các Tỉnh trưởng biết, chỉ có chủ lực của quân đoàn rút, Địa phương sẽ phải ở lại chiến đấu, như vậy về cơ bản kế hoạch chỉ là sự lừa dối lẫn nhau, một kế hoạch bất nhân, tàn nhẫn. Chiều 14-3 Bộ Tư lệnh quân đoàn triệu tập các sĩ quan cao cấp để thông báo lệnh rút bỏ Cao nguyên tuy nhiên không có giấy tờ lệnh hành quân cấp quân đoàn, cuộc hành quân tổ chức vội vã không được chặt chẽ. Tướng Phú lệnh cho Lữ đoàn 2 Kỵ binh rút từ đèo Nang Yang về tăng phái cho Liên đoàn 23 Biệt động quân và Công binh để sửa chữa cầu cống, giữ an ninh trên lộ trình đường số 7B. Dưới thời ông Diệm Cheo Reo được tách ra khỏi Pleiku thành lập tỉnh Phú Bổn, dân số 95 ngàn người, 70% là đồng bào Thượng. Tỉnh Lộ 7B từ ngã ba Mỹ Thạnh tới Tuy Hoà trước đây là đường trải đá, có 3 cầu chính: Phú Thiện 50m, Le Bac 600m, Cà Lúi 40m. Đoạn cuối tỉnh lộ 7B trong địa phận Tuy Hoà, quận Củng Sơn không an toàn cho sự lưu thông. Ngày 16-3 đoàn xe bắt đầu rời Pleiku, Tướng Phú và Bộ tư lệnh đi trực thăng về Nha Trang, bỏ lại Chuẩn tướng Phạm Duy Tất lo đôn đốc đám di tản. Đoàn di tản gồm có 4 đoàn , mỗi đoàn 250 xe, theo Tướng Hoàng Lạc (Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới) tổng cộng có 1200 xe cộ, theo Phạm Huấn có tất cả 4,000 quân xa đủ loại, mỗi ngày một đoàn xe. Ngày 16-3 đoàn xe lên đường êm xuôi vì có yếu tố bất ngờ, ngày thứ hai 17-3 dân chúng chạy ùa theo khiến cuộc di tản trở nên hỗn loạn phức tạp. Tướng Phú ra lệnh ngưng lui binh tại Phú Bổn và lập phòng tuyến tại Hậu Bổn. Các biến cố dồn dập sau đó vượt khả năng của giới thẩm quyền, quân nhân tại Phú bổn bị ảnh hưởng giây chuyền cũng hốt hoảng gia nhập đoàn chạy loạn. Ngày 18-3 Liên đoàn 7 Biệt động quân đang cùng thiết giáp đánh chốt Việt Cộng xui xẻo bị không quân oanh tạc lầm, gây nhiều thương vong cho phía ta. Hỗn loạn xẩy ra, bọn lưu manh côn đồ đốt chợ, Việt Cộng pháo kích phi trường gây kinh hoàng cho đoàn di tản, tối đếnViệt Cộng pháo kích thị xã khiến người chết như rạ, các chiến xa M-48, M-41 bị phá hủy 70%, lực lượng chiến xa pháo binh dồn đống tại Phú Bổn. Sau trận pháo kích dữ dội của Cộng quân, xe tăng M-48, M-41, đại bác bị hư hại hết không thể xử dụng được, 40 chiến xa và 8 khẩu 175 ly bị phá hủy. Ngày 16-3 -1975 Sư đoàn 320 Việt Cộng được lệnh hành quân cấp tốc đuổi theo đánh phá đoàn xe triệt thoái, đến 18-3 lực lượng lớn của Việt Cộng tiến vào Phú Bổn, đánh phá dữ dội đám quân triệt thoái đang ùn tại đây rồi tiếp tục đánh xuống Củng Sơn. Chúng gây kinh hoàng cho đoàn quân triệt thoái, các liên đoàn Biệt động quân, thiết giáp, bộ binh của ta bị thiệt hại nặng. Địch xử dụng nhiều đại bác, xe tăng lấy được của ta để truy kích đánh phá đoàn quân triệt thoái, một lỗi lầm tai hại của cuộc lui binh mà không ai ngờ tới. Nhận được báo cáo tình hình nguy khốn Tướng Phú ra lênh bỏ Hậu Bổn để về Tuy Hoà. Cuộc chạm súng tại Hậu Bổn kéo dài tới sáng hôm sau, đoàn quân đi được 20km thì Cộng Sản đã tràn vào Phú Túc, Liên đoàn 7 Biệt động quân chiếm lại quận Phú Túc. Khi ra khỏi Phú Túc lính tranh nhau vượt lên trước, người ta bắn nhau để tranh lên trước, súng nổ khắp nơi giành đường đi, hỗn loạn ngày càng trầm trọng do các binh sĩ rã ngũ, đào binh tòng phạm cướp của giết người. Binh lính chửi rủa Thiệu suốt dọc đường vì cuộc lui binh thê thảm này, dân chết lính chết, thật là một địa ngục, một hành lang máu. Công binh lập 2 cầu nổi, một tại Le Bac, một tại Đồng Cam, đoàn xe đến được sông Ba thì thì bị cát lún, mất ba ngày để trực thăng chở vỉ sắt lót đường, dù gặp khó khăn đoàn xe đầu tiên về tới Tuy Hoà, chỉ có một chiếc xe bị kẹt giữa cầu nổi khiến cả đoàn quân tắc nghẽn. Cộng quân từ Thuần Mẫn đổ xuống tổ chức các chốt chặn đường, một tiểu đoàn Địa phương quân và một tiểu đoàn Biệt động quân được giao nhổ chốt. Ngày 22-3 hai tiểu đoàn Biệt Động quân ở đoạn hậu đánh tan trung đoàn Bắc Việt, địch bị thiệt hại nặng phải rút lui. Việt Cộng đưa thêm các lực lượng đã tham chiến tại Ban Mê thuột với chiến xa yểm trợ theo tỉnh lộ 287 đổ xuống đường liên tỉnh lộ 7B. Tướng Cẩm báo cáo Tướng Phú, Phú ra lệnh tan hàng, Cẩm và Bộ tham mưu bay trực thăng về Tuy Hoà, những người còn lại chạy về hướng đông . Phía tây xe tăng Việt Cộng đang tiến tới, hướng bắc là Pleiku, hướng nam Việt Cộng đang đóng chốt, ai len lỏi theo sông Ba thì về được Tuy Hoà. Ngày 26-3 tiểu đoàn 34 Biệt động quân thanh toán các chốt sau cùng tại xã Mỹ Thạnh Tòng, những gì còn lại đã tới được Tuy Hoà, trong số 1,200 xe cộ chỉ có 300 mở đường máu tới được Tuy Hoà. Lui binh trên tỉnh lộ 7B được coi như một cuộc thảm bại lớn nhất trong chiến tranh tại miền Nam Nước Việt từ trước đến nay.

dlkh3 

Phạm Huấn gọi đó là hành lang máu, con đường máu và nước mắt dài 300 km trong 9 ngày đêm, đó cũng là một cuộc hành quân phá sản. Hậu quả là tổn thất của cuộc lui binh thật khủng khiếp, khoảng 60 ngàn chủ lực quân khi tới Tuy Hoà chỉ còn khoảng một phần ba 20 ngàn người, 5 liên đoàn Biệt động quân khoảng 7,000 chỉ còn 900 người, Lữ đoàn 2 thiết kỵ với hơn 100 xe tăng thiết giáp chỉ còn lại 13 cái M-113. Ông Cao Viên cho biết “Ít nhất 75% khả năng tác chiến của quân đoàn II bao gồm sư đoàn 23 bộ binh cũng như các lực lượng Biệt động quân, thiết giáp, pháo binh, công binh và truyền tin đã bị hủy hoại chỉ trong vòng có mười ngày. Chiến dịch đánh chiếm lại Ban Mê Thuột không thể thực hiện được, đơn giản chỉ vì Quân đoàn 2 không còn lực lượng tác chiến nào cả. Quân Cộng Sản đã chiếm được Kontum, Pleiku không cần phải chiến đấu. Khuyến khích bởi chiến thắng với tầm mức không ngờ, các sư đoàn F10, 316 và 320 CSBV quyết định đánh tới. Ngay lúc bấy giờ, địch quân biết rằng lực lượng mà Quân đoàn II xử dụng để ngăn chận bước tiến quân của họ về hướng bờ biển chỉ còn là Lữ đoàn 3 Dù tại Khánh Dương.” (Nguyễn Đức Phương, Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, trang 738) Bắc Việt cho biết đã tiêu diệt trên 14 ngàn chủ lưc quân nguỵ, chiếm được 5,760 khẩu súng các loại trong đó có 22 đại bác 155 ly, 9 khẩu 175 ly, 48 khẩu 105 ly, chiếm và phá hủy 2000 xe cộ các loại … Theo tài liệu Mỹ (The World Almanac Of The Viet Nam War.) và của Nguyễn Đức Phương, trong số 400 ngàn dân Cao nguyên chạy loạn chỉ có 100 ngàn tới được Tuy hòa. Theo Tướng Hoàng Lạc trong số 200 ngàn dân chạy loạn chỉ có 45 ngàn tới Tuy Hoà. Các kho quân dụng tại Kontum, Pleiku bỏ ngỏ, tất cả quân dụng, vũ khí trị giá 253 triệu Mỹ Kim lọt vào tay Cộng quân. Sự thiệt hại về tinh thần còn to tát khủng khiếp hơn thế. Theo tướng Hoàng Lạc kế hoạch không đầy đủ, kỷ luật hỗn tạp, không nghiên cứu lộ trình, cầu cống, dân chúng và gia đình binh sĩ hỗn độn làm cho quân đội mất tinh thần khiến ai cũng chỉ lo chạy tháo thân. Dân chúng nghe tin tức bi quan qua đài BBC đã ồ ạt chạy về phía Nam làm náo loạn cuộc triệt thoái khiến cho tinh thần binh sĩ xuống thấp. Tổng cộng 60 ngàn quân triệt thoái chỉ có 20 ngàn tới được Tuy Hoà, khoảng 200 ngàn dân chỉ có 45 ngàn tơi nơi yên lành, như vậy hằng 100 ngàn quân dân hoặc bị bắt, bị giết. Những người thương binh trong các bệnh viện cũng như bị thương trên đường chạy loạn chỉ có nước nằm chờ chết vì bác sĩ y tá không còn nữa, ai cũng chỉ lo chạy tháo thân, số người bị thương bị giết.. có thể lên tới hằng vạn hoặc nhiều hơn nữa. Tổng tham mưu trưởng nói: “Thất bại tự tạo của quân đoàn II là một giấc mơ hãi hùng trên cả hai phương diện tâm lý và chính trị cho dân chúng cũng như cho QLVNCH. Rối loạn, lo âu, sợ hãi, lên án, tội lỗi cũng như thất vọng bắt đầu đè nặng lên tâm trí mọi người” Nguyễn Đức Phương (CTVNTT, trang 738, 739). Những tin đồn cắt đất nhường cho Cộng Sản lan nhanh khiến người ta đổ sô nhau chạy về hướng Nam, Quân khu 1 cũng rơi vào tình huống tương tự. Trong khi ấy tại Sài Gòn phía đối lập tăng hoạt động bất tín nhiệm chính phủ Thiệu, quân đội cũng mất tin tưởng chỉ có phép lạ may ra cứu được miền Nam. Cuộc lui binh trên tỉnh lộ 7B đã đi vào vết xe đổ của trận Cao Bắc Lạng năm 1949 và cuộc di tản Quảng Trị cuối tháng 4-1972. Cuối tháng 9-1949, Đại Tá Charton triệt thoái 3 tiểu đoàn Pháp ra khỏi Cao bằng đến đầu tháng 10 bị Việt Minh chận đánh tan rã, Pháp mất 7,000 quân và nhiều đơn vị tinh nhuệ, 500 quân xa, trên 100 súng cối và 13 đại bác, 10 ngàn súng cá nhân và cộng đồng, đại liên trung liên, trận đánh đã rung động cả nước Pháp. Cuối tháng 4 năm 1972, các đơn vị phòng thủ Quảng Trị dưới sự chỉ huy của Tướng Vũ văn Giai chiến đấu trong tuyệt vọng, vùng trách niệm của sư đoàn 3 thu hẹp dần, Việt Cộng tấn công phía tây và nam Quảng Trị, cô lập lực lượng phòng thủ, binh sĩ ta ngày càng suy sụp tinh thần trước những đợt pháo của Bắc Việt. Trước hoàn cảnh thiếu thốn tiếp liệu trong khi địch tấn công dữ dội, Tướng Giai trình bầy kế hoạch triệt thoái về Nam sông Thạch Hãn với Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư lệnh vùng 1. Được Tư lệnh chấp thuận, ông cho lui binh tức thì ngày 1-5-1972 sư đoàn 3 và các lực lượng tăng phái như Thiết giáp, Biệt động quân, Thuỷ quân lục chiến.. tất cả khoảng 9 trung đoàn ồ ạt chạy về Nam qua Quốc lộ I. Việt Cộng chớp thời cơ pháo theo chết như rạ trên đại lộ kinh hoàng, Quốc lộ đầy các loại xe bốc cháy, hàng vạn người bỏ xác tại đây, Lữ đoàn thiết kỵ có hơn 1,000 người tử thương, sư đoàn 3 chết 2,700 người, mất 100 xe tăng, 140 đại bác … 

nhatrang1975 

Đại tá Phạm bá Hoa nói. “Những bài học chiến thuật trong trường Võ bị cũng như trường Đại học quân sự..đều thừa nhận rằng, trong các cuộc hành quân thì hành quân rút lui (hay triệt thoái, lui binh) là nhiều nguy hiểm hơn các cuộc hành quân khác, vì đơn vị đưa lưng về phía địch. Khi tấn công thì trước mặt là địch và sau lưng là hậu tuyến, còn trong rút lui thì trước mặt là hậu tuyến mà sau lưng trở thành tiến tuyến. Nguy hiểm là vậy. Nguyên tắc căn bản của bài học lui binh là phải có một lực lượng hành quân giao tiếp để bảo đảm an toàn phía trước mặt (hậu tuyến), còn lực lượng lui binh thì tự bảo vệ phía sau lưng (tiền tuyến), ngoài ra phải được không quân quan sát và yểm trợ hoả lực nữa. Với cuộc hành quân giao tiếp chậm chạp từ Tuy Hoà lên, đoàn quân triệt thoái ngày càng tan tác trên đường lui binh vô cùng hỗn loạn vì bị quân Việt Cộng liên tục phục kích, tập kích. Khi về đến Tuy Hoà thì tổn thất đến nỗi không còn khả năng thực hiện kế hoạch phản công chiếm lại Ban Mê Thuột được nữa. Số dân thường bị chết dọc đường nhiều không kém số thương vong của quân đội. Chết vì súng đạn, chết vì xe cộ tranh giành lối đi mà gây tai nạn bừa bãi, chết vì tranh nhau miếng ăn nước uống, chết vì cướp giật…” (Cuộc Rút Quân Trên Đường Số 7) Theo Đại tá Phạm bá Hoa, một điều trớ trêu là ta tưởng Việt cộng bao vây Pleiku nhưng thực ra khi quân ta rút đi ngày 16-3, 4 ngày sau, 20-3 chúng mới tiến vào tỉnh lỵ như thế chứng tỏ tình báo của ta quá yếu kém. Việt Cộng còn ở cách xa Pleiku rất nhiều nhưng ta đã quá sợ hãi tưởng chúng bao vây tấn công tới nơi. Sự thực các sư đoàn Việt cộng còn ở xa về phía nam và đông nam Pleiku, chúng lại ở gần đoàn quân triệt thoái nên ta đã bị địch pháo kích, đánh phá gây thiệt hại cho đoàn quân nặng nề chưa từng thấy trong 20 năm chiến tranh. Theo ông Cao Văn Viên, kế hoạch rút bỏ Quân khu 2 và 1 của Nguyễn văn Thiệu là do một mình ông ấy nghĩ ra, không hỏi ý kiến ai cả. Kế hoạch được gọi một cách bóng bẩy văn hoa “Tái phối trí lực lượng” nhưng thực ra chỉ là sự tháo chạy một cách hỗn độn vô tổ chức, không nghiên cứ lộ trình, vô kỷ luật… đánh lừa lẫn nhau. Ông Cao Văn Viên cho rằng đó là một kế hoạch đúng nhưng thực hiện quá trễ, đúng lý ra phải thực hiện từ 6 tháng trước. Chúng ta thấy dù kế hoạch đúng về quân sự nhưng cũng không thể chấp nhận được vì nó là một kế hoạch bất nhân, tàn nhẫn. Như chúng ta đã thấy Tướng Thiệu lệnh cho Tướng Phú khi rút Quân đoàn 2 phải dấu kín không được cho địa phương biết để lừa họ phải ở lại chiến đấu. Lệnh này đã gây tệ trạng cấp lớn bỏ quân, bỏ dân chạy trước khi cuộc tháo chạy bắt đầu diễn ra, kế hoạch thật là bất nhân khi rút đi bỏ rơi đồng bào ruột thịt của mình vào tay Cộng sản, chính chúng ta đã bỏ rơi lẫn nhau trong khi ta lại lớn tiếng chỉ trích người Mỹ bỏ rơi đồng minh. Hầu như tất cả giới quân nhân, chính khách, ký giả truyền tin… đều cho rằng kế hoạch tái phối trí, rút bỏ Quân khu 1 và 2 về bảo vệ Quân khu 3 và 4 của Tướng Thiệu là liều lĩnh, ẩu tả nó đã làm sụp đổ miền Nam nhanh chóng lại đẩy bao nhiêu quân, dân vào chỗ chết một cách oan uổng. Kế hoạch tỏ ra rất cẩu thả và không tưởng, cho dù đường tỉnh lộ 7B có rộng rãi thênh thang như xa lộ Sài Gòn Biên Hoà chăng nữa cũng không thể di tản hàng nghìn xe cộ, hằng mấy trăm nghìn quân dân chạy loạn tới nơi tới chốn được huống hồ đó chỉ là con đường đã bỏ hoang từ bao lâu nay, cầu cống hư hỏng, cũ kỹ chật hẹp. Tướng Thiệu đã quá độc đoán khi khăng khăng cho di tản cả hai Quân khu cùng một lúc bất chấp sự cầu khẩn của hai Tướng Tư lệnh xin ở lại chiến đấu đến cùng, sinh mạng của đất nước, của hàng nghìn vạn người được ông đem ra làm trò chơi mà không hề bàn với nội các, với quân dân các cấp. Nhưng nhiều người cũng cho rằng Tướng Thiệu chơi trò tháu cáy giả vờ thua chạy để Mỹ sót ruột phải nhẩy vào. Địch không thể ngờ ta lại có thể sai lầm lớn lao về chiến lược đến thế, đối với chúng kế hoạch triệt thoái Cao nguyên của Thiệu là một tặng phẩm từ trên trời rơi xuống. “Nhưng bây giờ, cả một quân đoàn chủ lực của ngụy rút chạy hộc tốc, bỏ cả Tây nguyên – một địa bàn chiến lược rất quan trọng thì vì sao? Theo lệnh ai? Hai đòn sấm sét ta đánh ở Nam Tây nguyên đã làm rung động quân địch đến thế kia ư? Đúng là đòn đánh trúng huyệt, địch bắt đầu ngấm, chỉ sau có mấy ngày. Đúng là địch đã choáng váng và rối loạn về chiến lược. Lại một sai lầm nữa rất lớn về chiến lược của chúng. Lệnh rút quân đoàn 2 phải do ngụy quyền trung ương ở Sài Gòn phát ra, vậy thì vấn đề đã vượt quá phạm vi chiến dịch và lên tới tầm chiền lược. Lần đầu tiên trong cuộc chiến tranh Đông Dương, trong phạm vi chiến dịch, một quân đoàn địch được trang bị hiện đại đã phải bỏ địa bàn chiến lược quan trọng rút chạy.Tình hình này sẽ dẫn đến nhiều sự kiện quan trọng khác, có thể dẫn đến việc ta kết thúc thắng lợi nhanh chóng cuộc chiến tranh” Văn Tiến Dũng (Đại Thắng Mùa Xuân trang 99) Tướng Thiệu đi từ sai lầm này tới sai lầm to lớn khác, kế hoạch tái phối trí lực lượng của ông đã khiến cho kẻ địch không phải giao chiến cũng chiếm được cả Kontum, Pleiku. Cho lệnh Quân đoàn 2 triệt thoái khỏi Cao nguyên, Tướng Thiệu đã mở một cuộc hành quân phá sản và dọn cỗ sẵn cho Việt Cộng xơi, chưa bao giờ Việt Cộng sung sướng thoải mái như tháng 3-1975, trong vòng một tuần lễ cả Cao nguyên rơi vào tay Cộng sản, tai hại hơn nữa nó kéo theo sự sụp đổ của hệ thống phòng thủ Quân đoàn 2. “Thế là rõ.Trận Buôn Ma Thuột hiểm và mạnh quá, tiếp đến trận đánh diệt quân viện sư đoàn 23 ở phía đông Buôn Ma Thuột nhanh và gọn quá làm cho địch hốt hoảng, rối loạn không những ở cấp sư đoàn, quân khu mà chính là động đến cơ quan đầu não của ngụy quyền Sài Gòn. Từ sai lầm về chiến thuật, chiến dịch, bị ta đánh đau quá, địch đi đến sai lầm về chiến lược; ngụy quyền Sài Gòn hốt hoảng ra lệnh rút chạy khỏi Tây nguyên đưa quân về đồng bằng hòng giữ lực lượng và giữ đất. Nhưng nào có đưa được lực lượng về đâu, có giữ được đất nữa đâu! ta đã diệt chúng trên đường rút chạy. Mà đã sai lầm về chiến lược rồi thì thất bại trong chiến tranh là điều chắc chắn, không sớm thì muộn” Văn Tiến Dũng (ĐTMX trang 105) Lần đầu tiên trong chiến tranh Đông Dương cả một quân đoàn phải rút chạy, trong hàng ngũ Tướng lãnh điều khiển bộ máy chiến tranh chưa có ai ẩu tả và bạt mạng cho bằng Tướng Thiệu. Thất bại trên đường số 7B do thất thủ Ban Mê Thuột, nếu không mất Ban Mê Thuột chắc không ai nghĩ phải bỏ Kontum Pleiku, từ sai lầm chiến thuật đi đến sai lầm chiến lược. Các cuộc hành quân không được Bộ Tổng tham mưu điều khiển giám sát, Tổng thống ra lệnh trực tiếp cho các Tư lệnh quân đoàn, Bộ Tổng tham mưu không được ra bất cứ lệnh nào cho các đơn vị, chính vì Thiệu dành độc quyền lãnh đạo nên mới đưa tới sụp đổ hệ thống phòng thủ nhanh như vậy. Lệnh triệt thoái là một lệnh bí mật, chỉ một số ít sĩ quan cao cấp của Quân đoàn được truyền đạt, sự thực đó chỉ là một sự dối trá lừa gạt lẫn nhau để bỏ chạy trước. Vì phải tháo chạy vội vã nên không có kế hoạch đầy đủ, vô kỷ luật, không nghiên cứu lộ trình, cầu cống, dân chúng và gia đình binh sĩ hỗn độn, người ta cho rằng Tướng Tư lệnh Phú không đủ khả năng kiểm soát đôn đốc cuộc lui binh cấp quân đoàn. Sự thực không hẳn như vậy, chẳng riêng gì tại quân khu 2 mà ngay cả Quân khu 1 kiện Tướng Ngô Quang Trưởng cũng đành bó tay không thể kiểm soát nổi tình hình rối loạn. Trên thực tế không có một lệnh tổng quát nào cả, cuộc lui binh không được tổ chức, giám sát, thi hành báo cáo chính xác, các ông Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên, Phụ tá hành quân Lê Nguyên Khang, Tham mưu trưởng liên quân Đồng văn Khuyên .. chưa hề một lần bay ra thị sát mặt trận, họ chỉ ngồi trong phòng lạnh điều binh khiển tướng bằng điện thoại. Các Tướng Trần văn Cẩm, Lê Duy Tất, Phạm văn Phú … những người chỉ huy cuộc triệt thoái bay trực thăng thật cao trên trời.. cả một quân đoàn không có ai chịu trách nhiệm. Sau này ngày 21-4-1975, sư đoàn 18 đã thực hiện rút quân tại Xuân Lộc có trật tự, an toàn, ít thiệt hại, họ đã cho di tản gia đình binh sĩ trước để lính an tâm chiến đấu. Cuộc rút quân của sư đoàn 18 cho thấy thất bại của Quân khu 2 và 1. – Thiếu chuẩn bị, không lập kế hoạch lui binh – Không kiểm soát đôn đốc cấp chỉ huy. – Gia đình binh sĩ, dân chúng di tản làm rối loạn hàng ngũ quân đội. – Không duy trì được kỷ luật khiến cho cho bọn côn đồ mặc sức tranh cướp bắn giết nhau, dành đường đi, không còn trên dưới, không ai tuân lệnh ai, bọn đào binh đồ thừa cơ nước đục thả câu tung hoành cướp bóc, hãm hiếp y như trong một xã hội thời thượng cổ. Bọn lưu manh đã bêu xấu quân đội Việt Nam Cộng Hòa để cho kẻ địch triệt để khai thác tuyên truyền nói xấu ta. Theo Phạm Huấn trong ngày di tản Pleiku, lúc sắp khởi hành đã sẩy ra hỗn loạn, cướp bóc bắn phá… tại nhiều nơi trong và ngoài thị xã. Dân chúng chạy tị nạn làm náo loạn hàng ngũ quân đội, binh lính mất tinh thần nên nhiều đơn vị đã bị rã ngũ, tan hàng mặc dù chưa chạm súng với địch. Người dân cứ ùn ùn kéo nhau chạy đã khiến cho quân lính không còn tinh thần chiến đấu, dân tị nạn đã làm đảo lộn kế hoạch triệt thoái của Quân đoàn. Cuộc triệt thoái đã khiến cho Cao nguyên lọt vào tay Cộng quân chỉ trong mấy ngày, nó cũng kéo theo sự sụp đổ của toàn bộ Quân khu 2. Điều tai hại là cuộc triệt thoái đã để lọt vào tay Việt Cộng nhiều vũ khí đạn dược, xe tăng, đại bác. “Hậu cần vẫn bảo đảm, không những chỉ mới dùng hết một phần số lượng đạn dược đã dự tính trong kế hoạch mà lại còn lấy thêm được khá nhiều của địch” Văn Tiến Dũng (ĐTMX trang 117) Tỉnh Quảng Đức nằm ở tây nam Darlac (Ban Mê Thụôt) và phía bắc Lâm đồng vẫn còn đứng vững sau 12 ngày cầm cự tại quận Kiến đức phía tây thị xã Gia nghĩa. Ngày 9-3 một sư đoàn Việt Cộng chiếm quận Đức lập phía tây bắc Quảng Đức, còn lại quận Kiến đức phía tây thị xã vẫn chống trả lại cuộc tấn công vũ bão của lực lượng địch đông như kiến bên Phước Long đánh qua từ 9-3 cho tới 22-3. Nhờ sự chiến đấu anh dũng của hai tiểu đoàn 81, 82 thuộc liên đoàn 24 Biệt động quân và hai đại đội địa phương quân Phan Rang tăng cường quận Kiến Đức vẫn còn đứng vững, họ bảo vệ được thị xã yên ổn được gần hai tuần lễ. Đến ngày 22-3 tình hình tiếp liệu thiếu hụt, binh sĩ ngoài tiền tuyến quá mệt mỏi trước áp lực địch, tỉnh đã tính chuyện di tản mặc dù chưa có lệnh quân đoàn. Sáng 22-3 Đại tá tỉnh trưởng Quảng đức lấy tiền trong ngân khố đem lên trực thăng đưa về Sài gòn rồi quay trở lại, ông ghé Lâm đồng nghỉ ngơi xong lên máy bay trở về Quảng Đức nhưng trực thăng bị hỏng không quay trở về được, đó là theo lời ông ấy nói. Đến chiều Trung tá tiểu khu phó bèn cho lệnh tỉnh di tản, hai tiểu đoàn Biệt động quân tại Kiến đức gọi về tỉnh xin lệnh nhưng thấy các quan đã triệt thoái nên họ cũng lui binh trong trật tự, họ đã gài mìn trên đường về thị xã rồi rút theo đoàn quân của tỉnh.

hinhanhngayquochan3041975023 

Về điểm này trong Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975 của Phạm Huấn nói sai hoàn toàn. Trang 170: “Đại tá Nghìn, Tỉnh trưởng Quảng Đức liên lạc về khẩn báo: Quận Kiến đức mất. Quận Gia Nghĩa đang bị pháo nặng. Cộng quân từ An Lộc kéo về đã tiến sát Phi trường Quảng Đức”. Trang 171: “Hầm chỉ huy và hệ thống liên lạc của Tỉnh trưởng Quảng Đức bị pháo sập. Đại tá Tỉnh trưởng chỉ huy lực lượng còn lại của tiểu khu, mở đướng máu rút về hướng Lâm đồng”. Không biết Phạm Huấn căn cứ vào tài liệu nào nhưng chúng tôi là nhân chứng từ đầu chí cuối tại đây đã biết rõ sự việc. Hoàn toàn không có chuyện quận Kiến đức mất, thị xã Gia Nghĩa không hề bị pháo, địch còn bị cầm chân tại Kiến đức cách thị xã khoảng 15 km. Tỉnh trưởng vẫn ở tư dinh cho đến ngày di tản, hoàn toàn không có chuyện pháo sập hầm, ông tỉnh trưởng đã đi máy bay trực thăng từ sáng hoàn toàn không có chuyện mở đường máu rút về Lâm đồng. Đoàn quân triệt thoái từ Quảng Đức sau 5 ngày băng rừng thì tới Lâm Đồng ngày 27-3, tổng cộng khoảng sáu, bẩy nghìn người gồm Địa phương quân, Biệt động quân, cảnh sát.. và một số ít dân chúng vượt sông Kinh Đà qua được Lâm Đồng, đa số dân chúng bị bỏ lại vì không thể đem hết mọi người được. Cuộc di tản tốt đẹp, hiền lành, rất kỷ luật hoàn toàn không sẩy ra lộn sộn nào đáng tiếc. Ngày 27-3 đoàn quân di tản từ Quảng đức tới được Lâm đồng nhưng thật không may, ngày họ tới nơi cũng là lúc Lâm Đồng bắt đầu di tản về Phan Rang trước sự ngạc nhiên của tất cả mọi người. Từ hai ngày trước sư đoàn 7 Việt Cộng thuộc quân đoàn 4, dưới quyền điều động của Trần Văn Trà chiếm Định Quán, Hoài Đức, Giá Rai ..

bdq_loisuoi 

 rồi tiến quân đánh tỉnh Lâm Đồng. Chúng tiến theo đội hình xe tăng đi đầu rồi bộ binh, pháo binh, hậu cần theo sau tiến theo đường 20 gặp đồn đánh đồn, gặp bót đánh bót. Tỉnh trưởng Lâm Đồng bỏ trốn từ hai giờ sáng, lấy tiền trong ngân khố chạy lên Đà Lạt bằng xe díp, sự thực không riêng gì Lâm Đồng, Quảng Đức mà tại cả hai Quân khu 1 và 2, nhiều đơn vị trưởng, nhiều sĩ quan cao cấp thấy tình hình bi đát đã bỏ đơn vị chạy tháo thân. Cuộc di tản tại Lâm Đồng về Phan Rang được tiến hành có trật trật tự, không sẩy ra hỗn loạn như cảnh triệt thoái trên đường số 7B có lẽ vì không bị Việt Cộng truy kích bắn phá tơi bời. Trong khi ấy hai trung đoàn Việt Cộng băng rừng từ Phước Long qua tiến chiếm quận Di Linh, chiều tối hôm ấy, pháo binh thuộc địa phận Đà Lạt bắn thả dàn vào Di Linh đang nằm trong tay Cộng quân. Hai hôm sau Đà Lạt cũng di tản về Phan Rang. Vùng Cao nguyên mất, chủ lực Quân đoàn bị thiệt hại gần hết nhưng ở duyên hải sư đoàn 22 bộ binh vẫn giữ vững phòng tuyền ở Bình Khê trên Quốc lộ 19, ở Tam Quan Bắc Bình Định, hai trung đoàn 41, 42 thuộc sư đoàn 22 chống trả mãnh liệt cuộc tấn công của sư đoàn 3 Việt Cộng dưới chân đồi Bình Khê phía tây Qui Nhơn. Hai bên giằng co nhau từng ngọn đồi, Cộng quân bị thiệt hại nhiều trong trận đánh. Trung đoàn 95B, sư đoàn 968 Cộng quân được tăng cường tấn công hai trung đoàn 41, 42 nhưng ta vẫn giữ được phòng tuyến cho đến 30-3. Ở duyên hải, Cộng Sản tăng viện thêm từ Quảng Ngãi đánh Tam Quan, Bồng Sơn ngày 25-3, Trung đoàn 47 sau 3 ngày chiến đấu rút về căn cứ không quân Phù Cát lập phòng tuyến mới ở đó. Sư đoàn 320 Việt Cộng sau khi đánh phá đoàn di tản trên tỉnh lộ 7B xong nhiệm vụ tiến về Tuy Hoà. Sư đoàn 10 cùng với xe tăng, đại bác từ Phước An theo đường 21 tiến về Khánh Dương ngày 27-3 để tấn công Lữ đoàn 3 Nhẩy Dù. Đặc công, thám sát Việt cộng xâm nhập Qui Nhơn đóng chốt, cắt đường giao thông, địa phương quân của ta bây giờ biến mất hết. Sư đoàn 22 được lệnh rút về Qui Nhơn. Ngày 30-3 trung đoàn 41 và 42 được lệnh rút khỏi mặt trận Bình Khê, trung đoàn trưởng trung đoàn 42, trung tá Nguyễn Hữu Thống đã năn nỉ xin tư lệnh ở lại đánh, ông nói tình hình chưa đến nỗi, nếu rút đi sau này khó đem quân trở lại. Nhưng đã quá trễ, khi hai trung đoàn vào thị xã Qui Nhơn, họ bị các chốt địch bên trong thị xã chận đánh, địa phương quân ta đã di tản, Qui nhơn đã nằm trong tay sư đoàn 3 Việt Cộng. Sau 3 ngày chiến đấu cộng với hải pháo yểm trợ, trung đoàn 41, 42 phá được phòng tuyến Việt Cộng ở Nam thành phố. Quân của hai trung đoàn 41, 42 thuộc sư đoàn 22 tập trung một địa điểm phía nam cách bến tầu 6 cây số chờ di tản. Hai giờ sáng 1-4 ba tầu hải quân cập bến chở đám binh sĩ còn lại của sư đoàn, trung đoàn trưởng trung đoàn 42, Trung tá Nguyễn hữu Thông từ chối di tản và ở lại tự sát. Trung đoàn 47 sau hai ngay cố thủ bị đánh bật ra khỏi phi trường Phù Cát,trên đường di tản về Qui Nhơn trung đoàn bị phục kích tại quận lỵ, tiểu đoàn trưởng địa phương quân tự tử, xác còn nằm trước văn phòng quận. Trung đoàn 47 mất đi hơn nửa quân số coi như bị loại khỏi vòng chiến, trong cơn tuyệt vọng Đại tá Lê Cầu, trung đoàn trưởng trung đoàn 47 cũng tự sát. Sư đoàn 22 khi được tầu chở về Vũng Tầu chỉ còn hơn 2,000 quân. Sáng 2-4 Việt Cộng chiếm Tuy Hoà, địa phương quân rút về Nha Trang, tại đèo Cả phía nam Phú Yên tiểu đoàn Biệt động quân 34 bị thất thủ sau hai ngày cầm cự. Tại Khánh Dương sư đoàn 10 Việt Cộng và lữ đoàn 3 Dù giao tranh dữ dội ngày 27-3, Việt Cộng được pháo binh, xe tăng yểm trợ đã phá được phòng tuyến của ta, tiếp viện cho Lữ đoàn Dù bị chận đánh, Nhẩy Dù giữ được Khánh Dương một tuần thì thất thủ ngày 2-4, Lữ đoàn Dù tan rã trước áp lực quá mạnh của địch chỉ còn hơn 300 lính chạy về Nha Trang. Việt Cộng chiếm trung tâm huấn luyện Dục Mỹ, Ninh Hoà. Nha Trang đã trở thành vô chính phủ như nhiều thành phố khác, tù quân lao phá ngục trốn ra lấy súng của đám tàn quân bỏ chạy bắn loạn xạ, cướp bóc dữ dội như thời thượng cổ. Trưa 2-4 Trung tướng Phạm Quốc Thuần chỉ huy trưởng Trung tâm Dục Mỹ đến Bộ tư lệnh Quân đoàn gặp Tướng Phu, hai người bàn bạc với nhau chừng 15 phút rồi cùng đi tới phi trường Nha Trang. Tướng Phú lên trực thăng bay đi tìm các đơn vị, đến chiều trở lại Nha Trang ông báo cáo với Bộ Tổng tham mưu biết không liên lạc được với đơn vị nào. Bộ Tổng tham mưu ra lệnh cho ông phối hợp Hải, Không quân để tổ chức phòng thủ phi trường Nha Trang. Nửa tiếng sau Tướng Phú bay khỏi Nha Trang, ông không nói gì với Ban Tham mưu quân đoàn hay bàn thảo kế hoạch gì cả, quá tuyệt vọng ông bay về Sài Gòn nhập bệnh viện Cộng Hoà ngày 4-4. Tướng Phú không còn tinh thần để chỉ huy vả lại Quân đoàn 2 của ông cũng chẳng còn gì cả. Khi ấy Ban Tham mưu Quân đoàn 2 bèn quyết định di tản khỏi Nha Trang. Ngày 2-4 các đơn vị của Tuyên Đức, Lâm Đồng rút về Phan rang để tháo chạy về miền Nam. Làn sóng tỵ nạn miền Trung từ Quân khu 1, và phía bắc Quân khu 2 đổ về Phan Rang khiến cho cả tỉnh hốt hoảng nhập bọn chạy về phía nam. Địa phương quân, cảnh sát, công chức Phan Rang… nhiều người bỏ đơn vị để chạy loạn. Tỉnh trưởng Đại Tá Trần Văn Tư cho phá hủy máy móc và một số cơ sở quan trọng rồi rút về Phan Thiết. Bộ Tổng tham mưu khi ấy bèn lấy Phan Rang và Phan Thiết, hai tỉnh cuối cùng của Quân đoàn 2 đem sáp nhập vào Quân khu 3 kể từ ngày 4-4-1975, Quân đoàn 3 cũng gửi Lữ đoàn 2 Nhẩy Dù ra tăng cường. Nha Kỹ Thuật, Phòng 7 Bộ Tổng tham mưu gửi nhiều toán thám sát vào hai vùng đông bắc và tây bắc Phan Rang để dò thám hoạt động của Cộng quân. Bộ Tư lệnh tiền phương của Quân đoàn 3 do Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi chỉ huy đặt tại phi trường Phan rang, Tỉnh trưởng Phan Rang được triệu hồi để tổ chức lại hành chánh và phòng thủ tỉnh. Trật tự được vãn hồi, tại phía tây Phan Thiết sư đoàn 7 Việt Cộng đang gây áp lực, toán thám sát cho biết địch tập trung 2 sư đoàn 3 và 10 tại Cam Ranh cách Phan Rang 45 km. Quân đoàn 3 lại cho rút Lữ đoàn Dù về lại vùng 3 để phòng thủ Quân khu, thay vào đó cho tăng cường Phan Rang một trung đoàn của sư đoàn 22 mới trang bị, bổ sung, một liên đoàn Biệt động quân, một tiểu đoàn thiết giáp. Cuộc thay đổi quân sắp hoàn tất thì ngày 4-4 Việt Cộng tấn công dữ dội, Tướng Nghi xin giữ lại một tiểu đoàn Dù. Lực lượng Ninh Thuận, Phan Rang bây giờ gồm: một tiểu đoàn Dù, một trung đoàn bộ binh, một liên đoàn Biệt động quân, 4 tiểu đoàn địa phương quân, một chi đoàn thiết giáp M-113, sư đoàn 6 Không quân, Hải quân gồm 2 khu trục hạm, duyên đoàn 27, một giang pháo hạm, một hải vận hạm, một số tầu yểm trợ. Phan Rang phố xá vắng tanh, dân chúng đã di tản về Phan Thiết. Ngày 14-4 sư đoàn 3 và 10 Việt Cộng tấn công tuyến phòng thủ Phan Rang theo Quốc lộ 1 và 11 đánh vào phi trường, tại đây tiểu đoàn Dù đụng độ với Việt Cộng, địch chết bỏ xác 100 tên. Ngày 15-4-1975 Ông Trần Văn Đôn, Phó Thủ tướng đặc trách Quốc phòng và Tướng Toàn thị sát mặt trận. Bị quân trú phòng đánh trả ác liệt Việt Cộng tăng thêm sư đoàn 325 và nhiều xe tăng đại bác tấn công phi trường Phan Rang đến trưa thì phòng tuyến vỡ, Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi Tư lệnh mặt trận, Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang tư lệnh sư đoàn 6 không quân, Đại tá Nguyễn Thu Lương lữ đoàn trưởng Dù được ghi nhận mất tích. Toàn tỉnh Ninh Thuận mất ngày 16-4, hai hôm sau ngày 18-4 mất Phan Thiết, Quân khu 2 hoàn toàn thất thủ. Cuộc triệt thoái Cao nguyên đã khiến cho Quân đoàn 2 mất gần hết chủ lực quân, chỉ còn sư đoàn 22 tại vùng duyên hải mặc dù chiến đấu rất anh dũng nhưng không thể chống lại 5 sư đoàn Cộng quân, cuối cùng toàn bộ Quân khu đã rơi vào tay Cộng Sản.
thienthanmudo 

Nhiều người đổ choTướng Phú đã làm mất Ban Mê Thuột và sụp đổ Quân đoàn 2, Phạm Huấn cho rằng ông chưa đủ khả năng nắm giữ một quân đoàn, có người cho Tướng Phú đã vận động để được làm Tư lệnh Quân đoàn, một chức vụ không tương xứng với tài thao lược của ông… Ngoài ra theo Phạm Huấn tại Quân đoàn 2 có những tị hiềm các nhân, kình chống nhau giữa những phụ tá của Tướng Phú, của những phe cánh trong quân đội và giữa Tướng Phú với những ông Tướng văn phòng ở Sài Gòn của Bộ Tổng Tham mưu. Quân đoàn 2 chia rẽ nội bộ, Tướng Phú không được thuộc hạ ở Quân khu 2 nể trọng có cảm tình, ông lại không được Tướng Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên nể nang, thù trong giặc ngoài, tất cả cũng đã làm suy yếu phần nào nội bộ của phe ta. “Vì sự đố kỵ, bất mãn, bất lực và vô kỷ luật của cả những sĩ quan cao cấp và có trách nhiệm nhất đưa đến sự thảm bại nặng nề trong cuộc rút quân khỏi Cao nguyên.” Phạm Huấn (CTTCN, trang 125) Sự thực Tướng Phú có một phần trách nhiệm để mất Ban MêThụôt vào tay Cộng quân vì ông đã mắc lừa kế nghi binh của địch, nhưng sự sụp đổ Quân đoàn 2 như chúng ta đã thấy Tướng Thiệu, tổng Tư lệnh là người chịu trách nhiệm nhiều nhất. Tướng Phú đã nhìn thấy cái nguy hại của kế hoạch lui binh, ông đã năn nỉ Thiệu xin ở lại tử thủ và nếu cần sẵn sàng chết tại Pleiku để đẩy lui cuộc tấn công của địch, nếu được yểm trợ về tiếp liệu ta có thể cầm cự cho tới mùa mưa, lúc ấy hai bên không thể giao chiến được nữa, nhưng Thiệu đã ngoan cố bắt Phú phải lui binh bằng được. Cuộc triệt thoái được thi hành quá vội vã theo lệnh của Tướng Thiệu nên dù tài cán đến đâu vị tư lệnh Quân đoàn cũng khó thể tránh được thảm bại ngay trước mắt. Tổng tư lệnh quân đội đã quá độc đoán trong quyết định tai hại khủng khiếp mà tập đoàn Tướng lãnh không ai dám cản ông, Tướng Phú đã can đảm cản ngăn Thiệu nhưng vai trò, chức vụ của ông so với tập đoàn tướng lãnh còn nhỏ, ông không thể quay ngược bánh xe mà đành chịu đứng nhìn nó lao xuống vực sâu. Theo dư luận chung các nhà quân sự, chính khách cũng như giới truyền thông báo chí ai nấy đều kết án Tướng Thiệu là người đã gây lên tấn thảm kịch đầy máu và nước mắt này, có người nghi ngờ Thiệu đã nhận lệnh của Mỹ giật sập miền Trung. “Rõ ràng là lệnh giật sập miền Trung là do từ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, có điều câu hỏi đặt ra ở đây là Thiệu giật sập miền Trung là do nghe lệnh của Mỹ hay tự ý một mình hành động? . . . “Trước khi vùng Một thất thủ thì ở vùng 2, toàn bộ quân đoàn 2 đóng tại Pleiku được lệnh di tản về Tuy Hoà bằng liên tỉnh lộ số 7. Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham mưu trưởng quân đoàn 2, sau này ra Hải ngoại có lên một đài phát thanh và có kể chuyện lại rằng, khi nhận được lệnh rút quân, một tướng lãnh của Quân đoàn 2 là tướng Cẩm đã nhận xét với ông “Thôi rồi bàn cờ đã sắp xếp xong, chẳng còn gì để nói chuyện đánh đấm nữa” Một thiếu tá pháo binh bầy tỏ sự tức giận với ông Lý ” Súng đạn còn đầy đủ, quân lính còn đông, sao lại bỏ chạy như thế này”. Chuyện kể của Tham mưu trưởng Quân đoàn 2 Lê Khắc Lý cho thấy khi Quân đoàn 2 được lệnh rút từ Pleiku về Tuy Hoà thì coi như số phận của Quân đoàn 2 cũng được sắp xếp xong cho phù hợp với kế hoạch giật sập vùng 1 và vùng 2 của Sài Gòn” Trần Việt Đại Hưng (Một Bí Ẩn Cần Tiết Lộ Trong Chuyện Bức Tử Miền Nam Năm 1975). Những ý kiến trên đây chỉ là giả thuyết. Nhà báo PhạmTrần trong bài Người Điên Nguyễn Văn Thiệu Và Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975″. “Có đọc sách Phạm Huấn, chúng ta mới thấy rõ tư cách lãnh đạo của ông Thiệu, Ông Khiêm và Đại tướng Viên… tác giả viết rất kỹ về những lệnh trước đá lệnh sau của ông Thiệu …. đã khiến cho tình hình bi đát càng khốn khó hơn. Qua những tiết lộ của Phạm Huấn, tôi có cảm tưởng như vào thời gian ấy chúng ta bị lãnh đạo bởi một ông Tổng thống điên mà chúng ta không biết. Rất tiếc là kẻ điên không bị bỏ lại, không chết mà hằng trăm ngàn chiến sĩ và đồng bào ta đã bị bỏ lại, bị gục ngã trên tỉnh lộ 7, trên các Quốc lộ 14, 19… .. cả ông lẫn Đại Tướng Viên, Thủ Tướng Khiêm chỉ biết ngồi ở phòng lạnh gọi điện thoại phán lệnh này lệnh kia. Trong khi đó chiến sĩ và đồng bào ta tiếp tục ngã gục cho cái quyết định ma quái ở Cam Ranh” Phạm Huấn (Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975 trang 241) Phạm Huấn cũng cho rằng các Tướng lãnh đạo Thiệu, Khiêm, Viên đã tỏ ra không có tinh thần trách nhiệm can đảm, không dám đi tới tận mặt trận như các tướng ngoại quốc De Lattre, Navarre đã xuống Vĩnh Yên, Hoà Bình, Điện Biên Phủ hoặc như Westmoreland lên Cao Nguyên khích lệ tinh thần binh sĩ, không ông tướng nào có được hành động anh hùng mà chỉ ngồi văn phòng ra lệnh. Phạm Huấn cũng chê tư các các tướng Việt Nam chỉ thích gửi con đi du học nước ngoài không có được tinh thần như De Lattre đưa con trai ra mặt trận đóng tại Ninh Bình, Đô đốc Sharps, tư lệnh Thái Bình Dương để con trai, một thiếu tá phi công tham gia chiến trận. Phạm Huấn kết án các Tướng Thiệu, Khiêm, Viên, Quang là những kẻ chủ mưu và đồng lõa trong quyết định đưa tới sụp đổ toàn diện Quân đoàn 2. Nhà báo, 

xuanloc1 

dân biểu Trần Văn Ân trong lời Bạt cho cuốn Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên Năm 1975 viết. “đây là cuốn sách đầu tiên đã nói lên được cái thân phận vừa đau thương vừa hào hùng của người lính Cộng Hoà thấp cổ bé họng, đã mô tả được những uất nghẹn của của người Sĩ quan Việt Nam nhìn thấy thảm cảnh Quân đội tan hoang mà bó tay chịu chết, và cũng đã phơi bầy được cái hậu trường tàn nhẫn, hèn nhát và bất nhân của nhóm người lãnh đạo Quốc Gia và chỉ huy Quân đội. . . . . Ba ông tướng cao cấp khác, có mặt tại Hội Nghị Cam Ranh cùng với ông Thiệu, đã hoàn toàn im lặng, không góp bàn gì về cái quyết định giết người của ông Thiệu cả” (CTTCN 1975, trang 265, 266) Trần Văn Ân đã lên án gay gắt quyết định tàn nhẫn của Tướng Thiệu và thái độ vô trách nhiệm của tập đoàn Tướng lãnh trước nhưng cái chết oan uổng của hằng nghìn hằng vạn người. Họ là những kẻ tán tận lương tâm đã đẩy bao nhiêu người vào chỗ chết. “Người đọc cũng thấy rõ sự tàn nhẫn, lạnh lùng của TổngThống Thiệu khi ban hành thứ mệnh lệnh tự sát choTướng Phú, và thái độ im lặng giả dối, sống chết mặc bay của những tướng hiện diện…. . . . Câu chuyện Phạm Huấn kể về cái Hội Nghị Cam Ranh còn đặt ra một khía cạnh khác của nhân tình thế thái: đó là khía cạnh đạo đức của mệnh lệnh.Trong suốt buổi họp từ ông Thiệu, ông Khiêm tới ông Viên, Ông Quang, không một ai đề cập tới số phận của hằng triệu dân, hàng trăm nghìn Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và gia đình binh sĩ sẽ bị bỏ rơi lại, và hàng chục ngàn xác chết Quân Dân chắc chắn sẽ đầy rẫy dọc theo con đường tử lộ. Ông Thiệu phân tách tình hình rồi lạnh lùng chỉ thị rút chủ lực quân thật nhanh, thật bí mật về miền Duyên Hải… Các Ông Tướng khác giữ im lặng, thản nhiên như mọi việc đã được quyết định rồi và không còn gì để bàn cãi nữa” Trần Văn Ân (CTTCN 1975 trang 267) Những lời kết án gay gắt của Trần văn Ân hay của Trần Việt Đại Hưng, của Phạm Trần … cũng như của bao nhiêu người khác nữa thể hiện nỗi uất hận của quân dân đối với tập đoàn lãnh đạo bất tài, tham ô, sợ chết và cái quái thai Hội Nghị Cam Ranh bất nhân, tàn ác của họ.

soldier2 

Cái Hội Nghị giết người ma quái ấy của bọn tán tận lương tâm đã bị muôn đời nguyền rủa, trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn cò trơ trơ, dẫu cho đến muôn đời không bao giờ cạn lời của miệng thế thị phi. “Lịch sử sẽ ghi những gì về Hội Nghị Cam ranh và về các tướng lãnh đạo của nền Đệ Nhị Cộng Hoà? Sử liệu có lẽ sẽ cần năm ba chục năm để hoàn tất. Nhưng ngay bây giờ thì sử xanh đã truyền tụng quá nhiều. Sử xanh ghi rằng. “Hội Nghị Cam Ranh ngày 14.3.1975 và cuộc triệt thoái Cao nguyên ngày 17.3.1975 không phải là khởi đầu sụp đổ của chế độ Đệ Nhị Cộng Hoà Việt Nam

.thieu 

Hai biến cố này thực sự là dứt điểm vụt tắt cuối cùng của cơn hấp hối đã dai dẳng nhiều năm của chế độ dũng phu Nguyễn Văn Thiệu-Trần Thiện Khiêm trong đó một khối quân đội gồm Đa Số Tướng lãnh và quân sĩ tài giỏi, anh hùng đã bị lợi dụng, thao túng và chết uổng bởi một nhóm nhỏ Tướng lãnh cầm quyền tham ô, bất lực và thiếu đạo đức, với sự tiếp tay của một thiểu số người vô tài bất hạnh; kể cả một số khoa bảng thời cơ và bịp bợm. Tiền bạc của nhân dân mà họ mang ra ngoại quốc có thể giúp họ sống sung túc tới trăm tuổi là cùng. Nhưng tội lỗi của những Tướng lãnh đạo sẽ được lịch sử ghi rõ đời đời. Lương tâm đui chột của họ có thể làm ngơ, nhưng lịch sử bao giờ cũng sáng suốt và tiếng nói dân gian bao giờ cũng công bình. Liệu rồi đây, khi họ nằm xuống, những nấm mồ của họ có sẽ được chôn tại miền nắng ấm quê nhà hay sẽ phải nằm cô đơn giữa một miền tuyết lạnh Mỹ Châu, Âu Châu? Liệu rồi đây nhân dân có đủ khoan dung cho phép họ nằm cạnh những nấm mồ của các chiến sĩ anh hùng đã chết trên chiến địa, đã tự sát khi bại trận hay đã chết trong lao tù? Những anh hùng này đã hy sinh cho một chính nghĩa cao đẹp nhưng bị chết uổng vì một Lãnh Đạo tồi tàn” Trần Văn Ân (CTTCN trang 272). Tướng Phú phải chịu trách nhiệm phần nào trong cuộc hành quân phá sản và làm sụp đổ Quân đoàn. Là người tự trọng ông đã can đảm tự xử lấy bản thân vì đã không chu toàn trách nhiệm. Dù sao Tướng Phú vẫn còn có tư cách hơn những anh hèn bỏ chạy, đó là sự khác biệt giữa kẻ tiểu nhân và người quân tử, để kết thúc bài này chúng tôi xin mượn lời ký giả Trần Văn Ân luận bàn về tư cách của người chiến sĩ anh hùng thà chết vinh còn hơn sồng nhục.

pvp 

 “Tướng Phú đã nằm xuống…. với đầy đủ khí tiết của một cấp chỉ huy đã dám tự xử mình khi trách nhiệm không hoàn tất. Tại sao những Tướng lãnh đạo nền Đệ II Cộng Hoà lại không thấy được tội lỗi của mình và không dám tự xử? Phải chăng đó là sự cách biệt giữa người quân tử và kẻ tiểu nhân, giữa người yêu nước thật sự và người làm chính trị vì tham vọng cá nhân? Phải chăng đó là sự cách biệt giữa Tướng tác chiến Phạm Văn Phú và các Tướng chính trị Nguyễn Văn Thiệu Trần Thiện Khiêm? Ước mơ của tôi là một ngày nào quê hương được giải phóng, tôi sẽ về lại Việt Nam thăm mộ Tướng Phú và các chiến sĩ vô danh khác, thắp nén hương tưởng nhớ những anh hùng đã vị quốc vong thân, và xám hối về những tội lỗi của mình” (CTTCN 1975 trang 273)
Trọng Đạt